Chuyện dọc đường

Có bao chuyện vụn vặt trải qua dọc đường, nếu không ghi lại ngay sẽ rơi tõm vào quên lãng. Như mẩu chuyện tôi chứng kiến sáng nay trên chuyến tàu nhanh nội đô S5 chạy từ phía Đông sang phía Tây thành phố. Một gã trai trẻ say xỉn bước lên toa và lảo đảo đi đi lại lại ngay phía trước mặt chúng tôi. Lúc đó tôi vừa tìm được chỗ ngồi, trên một chiếc ghế băng dài chạy dọc toa, giữa một cô gái người Âu và một người đàn ông châu Á trẻ. Gã trai mấy lần chực ngã, lần đầu chúi vào người đàn ông châu Á trẻ phía bên trái tôi, lần thứ hai vào chính tôi, và mỗi lần như vậy cả người hành khách châu Á (mà tôi đoán là một đồng hương cũng đang trên đường đi làm) lẫn tôi đều phải dùng cánh tay để đỡ lại. Không chỉ say xỉn, mà cả vẻ mặt, hành trang nhếch nhác, bẩn thỉu của gã còn cho thấy rõ đây là một người vô gia cư. Ai đi lại nhiều trên các tuyến tàu công cộng ở Berlin đều thường xuyên bắt gặp những số phận tương tự. Có một lần tôi lên tàu vào giờ cao điểm và phát hiện thấy một khoang còn trống, mừng quá định vào lấy chỗ thì bỗng khựng lại bởi một thứ mùi khắm lặm khủng khiếp bốc thẳng vào mũi, chỉ kịp mục kích thoáng qua một thân thể rách rưới nằm sõng soãi trên cả chiếc ghế băng là đã phải quay đầu rút lui, để sau đó đi hết từ cuối toa tới đầu toa vẫn chưa dứt được mùi hôi thối.

Gã trẻ sáng nay chưa đến nông nỗi này, nhưng cơ thể rõ ràng cũng đã bốc mùi không hề dễ chịu. Sau khi chúi mình vào người đàn ông châu Á trẻ và tôi và đều bị gạt ra, giờ đây gã dường như có ý ngã xuống hướng cô gái ngồi phía bên phải tôi. Tôi còn kịp thấy đôi mắt xanh của cô mở to (tôi không dám chắc, nhưng mường tượng trong khi viết những dòng này đó phải là một đôi mắt xanh…), không hẳn là sợ hãi, nhưng đầy vẻ cảnh giác và căng thẳng. Bất ngờ gã trai đổ gục xuống, nhưng không phải là vào cô gái, mà vào người đàn ông châu Á trẻ. Chưa kịp định thần thì tôi thấy thấy gã trai đã bị tung bổng lên rồi rơi phịch, đầu đập bốp vào nền toa tàu. Hình như gã nằm bất động mất mấy giây. Tôi không kịp nhận biết người đàn ông trẻ châu Á đã làm gì, nhưng tất nhiên cú ngã trời giáng của gã xỉn vô gia cư là kết quả của một đòn đánh ngoạn mục từ vị hành khách ngồi ngay bên trái tôi này.

Như đã nói, dường như gã trai bị choáng đi mất mấy tích tắc, nhưng ngay đó gã đã lại lảo đảo tìm cách đứng dậy. Một hành khách ngồi ở hàng ghế đối diện, một người Đức ở độ tuổi trung niên có dáng vẻ công chức, lên tiếng hàm ý trấn tĩnh và khuyên gã trai hãy ngồi lại xuống sàn tàu. Lúc đó, mặc dù phải hơn một ga nữa mới tới bến cần xuống, tôi đã đứng dậy và đi ra hướng cửa. Khi đi ngang qua, tôi mới kịp quan sát vẻ mặt của người đàn ông châu Á trẻ. Anh ta vẫn ngồi yên, mắt điềm tĩnh tập trung vào màn hình chiếc Smartphone cầm trên tay. Trước đó, khi ngồi xuống bên cạnh anh, như đã nói, tôi có cảm giác đây là một người đồng hương. Nhưng lúc này, khi có dịp nhìn kỹ hơn, thì dường như không phải vậy, đó là một gương mặt hoàn toàn xa lạ, có thể là một người Hàn, người Trung Quốc hay từ một quốc gia nào khác vùng Viễn Đông.

Cô gái người Âu giờ đây cũng đã hết vẻ căng thẳng và lại cúi xuống màn hình điện thoại của mình. Không một ai, kể cả vị hành khách đã tỏ lòng trắc ẩn với gã trai bị đốn ngã trước đó, lên tiếng về cú ra tay, hay cũng có thể là cú ra chân của người đàn ông châu Á trẻ. Và gã trai say xỉn vô gia cư, bất chấp lời khuyên răn (mà chắc hẳn gã chẳng hề nghe, mà có nghe được thì cũng chẳng hiểu), lại đã nhổm dậy và tiếp tục chân nam đá chân xiêu đi lại trong toa. Và bây giờ tôi mới nghe giọng nói của y, một người Đức chính cống, mặc dù y đã say đến líu lưỡi. Y đi đến sát đến cửa toa, lúc bây giờ chửi rủa không ngớt và rất to tiếng, chân đạp tứ tung vào cánh cửa sắt, cho đến khi có một hành khách Đức đứng tuổi khác ở cạnh nghiêm khắc lên giọng cảnh cáo. Sau đó thì tàu dừng, và tôi nhận ra đó cũng là sân ga mà mình cần phải xuống.

Advertisements

Franz Kafka, Die Vorüberlaufenden/ Những kẻ chạy qua

IMG_0870

Die Vorüberlaufenden

Wenn man in der Nacht durch eine Gasse spazierengeht, und ein Mann, von weitem schon sichtbar — denn die Gasse vor uns steigt an und es ist Vollmond -, uns entgegenläuft, so werden wir ihn nicht aufpacken, selbst wenn er schwach und zerlumpt ist, selbst wenn jemand hinter ihm läuft und schreit, sondern wir werden ihn weiterlaufen lassen.

Denn es ist Nacht, und wir können nicht dafür, daß die Gasse im Vollmond vor uns aufsteigt, und überdies, vielleicht haben diese zwei die Hetze zu ihrer Unterhaltung veranstaltet, vielleicht verfolgen beide einen dritten, vielleicht wird der erste unschuldig verfolgt, vielleicht will der zweite morden, und wir würden Mitschuldige des Mordes, vielleicht wissen die zwei nichts voneinander, und es läuft nur jeder auf eigene Verantwortung in sein Bett, vielleicht sind es Nachtwandler, vielleicht hat der erste Waffen.

Und endlich, dürfen wir nicht müde sein, haben wir nicht so viel Wein getrunken? Wir sind froh, daß wir auch den zweiten nicht mehr sehn.

Những kẻ chạy qua

Nếu trong đêm khuya ta đi dạo qua một ngõ hẻm và có một người đàn ông chạy ngược hướng, từ xa ta đã thấy rõ y – bởi ngõ hẻm trước mặt là một con dốc và trăng rằm đang toả sáng – thì ta sẽ không tóm lấy người này, cho dù y yếu ớt và rách rưới, cho dù có ai đó đang đuổi theo y và la hét, mà ta sẽ để cho người này chạy tiếp.

Bởi bấy giờ là lúc đêm khuya, và ta nào đâu có liên can gì tới việc ngõ hẻm đang dâng cao trong ánh trăng rằm trước mặt, và ngoài ra, biết đâu hai kẻ đó chỉ làm một cuộc rượt chơi, biết đâu cả hai đang đuổi theo một người thứ ba, biết đâu kẻ thứ nhất đang bị truy đuổi một cách vô tội, biết đâu kẻ thứ hai đang có ý định giết người, và như vậy ta sẽ trở thành đồng loã của một vụ sát nhân, biết đâu cả hai chẳng hay biết gì về nhau, và mỗi người đều vô tình chỉ muốn trở về giường của mình, biết đâu đấy chỉ là những kẻ mộng du, biết đâu kẻ thứ nhất đang cầm theo vũ khí.

Và rốt cuộc, liệu chính ta đã không trở nên mệt mỏi, liệu ta đã chẳng uống rượu vang quá chén? Và, ta thở phào khi kẻ thứ hai cũng đã biến mất.

(Aus „Betrachtung“ / Từ tập đoản văn “Quan sát”, tác phẩm đầu tay của Franz Kafka, in năm 1908, lúc tác giả 25 tuổi)

Bản dịch tiếng Việt: Trương Hồng Quang (01.01.2018)

Ist’s möglich, ist das Weib so schön? Ôi có thật đàn bà đẹp vậy?

Hexenküche

Luật gia và doanh nhân Nguyễn Trọng Cử, bạn học thời sinh viên của tôi ở Leipzig, đang trong quá trình thiết kế một Hầm bia Đức ở Hà Nội (46 An Dương) và có ý định sẽ dành 6 khung tường cho các tác phẩm hội hoạ được vẽ lại theo các hình mẫu nổi tiếng ở Đức và châu Âu. Một trong những tác phẩm ấy là bức tranh tường được post kèm theo ở trên của Hans Best (1847-1942), một trong những hình minh hoạ của hoạ sỹ cho vở bi kịch FAUST của J. W. Goethe treo trên tường hầm bia nổi tiếng ở Leipzig có tên gọi là „Auerbachs Keller“.  Về nội dung của bức tranh này Nguyễn Trọng Cử đã tóm lược không thể nào hay hơn, tôi xin chép lại ở đây: Đó là „một hoạt cảnh trong FAUST – Bếp phù thủy cải lão hoàn đồng cho Dr. Faust già nua thành chàng trai trẻ cùng quỷ Mephistopheles đi chu du đến “cây đời” với tình yêu nàng Gretchen.“ Ông bạn từ thời tuổi trẻ cũng lại có nhã ý mời tôi chua thêm bản dịch tiếng Việt cho mấy câu thơ của Goethe kèm theo bức hoạ của Hans Best. Trân trọng lòng thành của bạn, tôi đã đáp lễ bằng mấy câu dịch vụng như sau, cốt chỉ là chuyển ý của nguyên tác:

„Ist’s möglich, ist das Weib so schön?
Muß ich an diesem hingestreckten Leibe
Den Inbegriff von allen Himmeln sehen?“
(Goethe, Faust I, V. 2437-2439)

[„Ôi có thật đàn bà đẹp vậy?
Liệu có phải ở tấm thân kiều diễm này
Ta nhìn thấy cả thiên đường đang hiển lộ?“]   

Tôi cũng đã hứa với anh sau khi đi thăm một người bạn chung (đang nằm tại một Trung tâm điều dưỡng ở Berlin sau một cơn tai biến nặng) sẽ tra cứu từ ba bản dịch FAUST ra tiếng Việt mà tôi đang may mắn có để giới thiệu lại giúp anh có thêm nguồn tham khảo. Và sau đây là ba bản dịch đó, kèm theo Bonus là một bản dịch Anh ngữ:

*
„Nàng đẹp tuyệt vời, có thể thế được chăng?
Nhìn tấm thân nằm kia, ta phải nói
Hiện thân của mọi tầng trời tụ lại.“
(Bản dịch của Đỗ Ngoạn, Nxb. Văn học, Hà Nội 1995, tr. 113)

**
„Có thể trần gian nhan sắc mà đẹp được nhường này?
Nhìn người đẹp nằm kia, dễ thường ta phải nói
Đây là ưu phẩm tuyệt vời của bốn tầng trời un đúc lại.“
(Bản dịch của Thế Lữ – Đỗ Ngoạn, có tham khảo bản Pháp văn của Henri Lichtenberger và bản Trung văn của Quách Mạt Nhược, Nxb Văn học, Hà Nội 1977, tr. 157)

***
„Có thật thế chăng, nàng đẹp tuyệt trần?
Nhìn tấm thân diễm kiều nằm kia ta như thấy
Tinh hoa của mười phương cùng tụ về nơi ấy.“
(Bản dịch của Quang Chiến, Nxb Văn học, Hà Nội 2001, tr. 122)

****
„Can any woman be so lovely?
Am I allowed to see, in this recumbent form,
the essence of all paradises?“
(Bản Anh văn của Start Atkins, Princeton University Press, 2014, tr. 62)

Xin lưu ý thêm: Bản (*) của Đỗ Ngoạn tuy công bố năm 1995 nhưng thực ra là bản dịch đầu tiên và dịch trực tiếp từ tiếng Đức. Trên cơ sở bản tiếng Đức của Đỗ Ngoạn và tham khảo thêm bản Pháp văn của Henri Lichtenberger và bản Trung văn  của Quách Mạt Nhược, năm 1977 nhà thơ Thế Lữ đã cho ra mắt tập I của vở bi kịch. Còn bản (***) của Quang Chiến công bố năm 2001 là bản FAUST tiếng Việt trọn vẹn (gồm cả hai tập với 12111 câu thơ), và tất nhiên cũng là dịch thẳng từ nguyên tác.

Tại sao lại có các bức tranh tường minh hoạ về „Faust“ treo ở hầm bia Auerbachs Keller ở Leipzig? Có hai lý do: Tửu quán này từng là nơi nhiều lần dừng chân của chàng trai trẻ Goethe  lúc còn là sinh viên ở Leipzig (chàng cũng học nghề luật như vị chủ quán Hầm bia 46 An Dương!) và trong vở bi kịch Faust, Goethe đã sử dụng không gian của Auerbachs Keller như là chặng đầu tiên trên con đường du hý của Faust cùng quỷ Mephistopheles. Thời sinh viên chúng tôi đã nhiều lần tới đây, mặc dù một bữa ăn ở đó có thể ngốn hết cả một tuần lễ học bổng còm cõi, với những món ăn có tên rất giật gân như „Thịt Quỷ“ („Mephistopheles Fleisch“), mà thực ra chỉ là thịt lợn hầm với rượu vang đỏ, có màu đại loại như huyết quỷ 🙂 Cách đây ít năm khi trở về Leipzig tôi có quay lại quán này, thực khách vẫn nườm nượp như xưa, còn „Thịt Quỷ“ thì không biết có còn nữa không, nghe đâu chủ quán bây giờ là một người Thổ Nhĩ Kỳ.

Trở lại câu thơ của Goethe. Chắc chắn là chủ quán Hầm bia Đức 46 An Dương cùng các bạn văn-thơ khác sẽ nghĩ thêm một hay nhiều phương án dịch thơ ra tiếng Việt khác hay và phù hợp hơn, trên cơ sở tham chiếu các trích dẫn ở trên. Ở đây tôi chỉ xin cung cấp thêm một thông tin „liên văn bản“: Lúc mà Faust nhìn vào tấm gương ma thuật trong bếp phù thuỷ và thấy hiện lên trong đó ảo ảnh „tấm thân đàn bà lồ lộ“ là lúc nhân vật này vẫn còn là một vị Tiến sỹ đáng kính, chưa được uống thuốc cải tử hoàn sinh của phù thuỷ. Kết thúc màn „Bếp phù thuỷ“ này, quỷ Mephistopheles nói (thì thầm):

„Du siehst, mit diesem Trank im Leibe,
Bald Helenen in jedem Weibe.“
(V. 2603-2604)

[„Ngươi sẽ thấy, với thức uống này trong bụng
Ở bất cứ một cô ả nào cũng là nàng Helena.“]      

Helena, lại xin có thêm một ghi chú “liên văn bản” nữa, là một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, là biểu trưng cho người đàn bà đẹp nhất của thế giới cổ đại. Và nàng cũng là nguyên nhân đã gây nên cuộc chiến tranh thành Troy („Môt hai nghiêng nước nghiêng thành – Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai!“.) Ở phần 2 của vở bi kịch, Goethe sẽ dành một phần lớn dung lượng tác phẩm để dựng nên cuộc tìm kiếm và gặp gỡ của Faust với Helena, tất nhiên cũng với sự trợ giúp ma thuật của quỷ Mephistopheles. Còn chi tiết thú vị ở ngay sau phần kết thúc cảnh „Bếp phù thuỷ“ này là cảnh Faust bắt gặp nàng Margarette, còn gọi là Gretchen, trên đường phố và ngay lập tức thốt lên:

„Beim Himmel, dieses Kind ist schön! 
So etwas hab’ ich nie gesehn.“

[„Trời, cô bé này xinh thực!
Vẻ đẹp nhường kia ta chưa thấy bao giờ…“]
(Bản dịch của Quang Chiến, nguồn ở trên, tr. 132)

Tôi xin phải thú nhận, mãi về sau này mình mới hiểu được tương quan giữa liều thuốc cải tử hoàn sinh trong bếp phù thuỷ, đặc biệt là câu nói của Mephistopheles („Ngươi sẽ thấy, với thức uống này trong bụng – Ở bất cứ một cô ả nào cũng là nàng Helena“) và tình yêu của Faust dành cho Gretchen, một tình yêu sở dĩ có được là do chất kích thích!

Kết thúc toàn bộ tác phẩm là hai câu thơ:

„Das Ewig-Weibliche
Zieht uns hinan.“
[„Cái Nữ Tính Vĩnh Hằng
Nâng ta lên cao mãi“]
(Bản dịch của Quang Chiến, nguồn ở trên, tr. 607)

Đó đã là điểm cuối cùng, đỉnh kết thúc của cả một quá trình bi kịch, với một thời gian hành động hơn hai nghìn năm, với hơn 12 nghìn câu thơ đầy biến ảo, khởi đầu từ hình ảnh „tấm thân đàn bà lồ lộ“ trong bếp phù thủy, được vẽ nên bởi những nét bút, mảng màu thật dễ thương và có phần vô tội trên bức tranh tường của Hans Best ở hầm bia Auerbachs Keller ở Leipzig, và một ngày không xa, sẽ được tái hiện rực rỡ ở Hầm bia Đức 46 An Dương ở Hà Nội!

 

SỐNG MỘT ĐỜI VẪN CHƯA ĐỦ

fullsizeoutput_10d48

Ngày năm cùng tháng tận vẫn còn kịp tậu được cuốn tự truyện của Gregor Gysi, bản in để tặng, bản điện tử để đọc. Đầu đề sách “Ein Leben ist zu wenig“ dịch theo nghĩa gốc là “Một cuộc đời là quá ít”, tạm diễn giải theo tít trên nghe ra có vẻ xuôi tai và có phần khiêm cung hơn 😉 

Tôi chỉ mới kịp đọc đến chương 7 bản đọc thử trên Kindle, nhưng chậm nhất đến chương 3 là biết nhất thiết phải đọc hết cuốn sách này, cụ thể ở trang 29 với chi tiết về lần gặp gỡ giữa tác giả và Helmut Kohl vào năm 1999. Kohl lúc đó đã thôi chức Thủ tướng Liên bang một năm, còn Gysi là đương kim Chủ tịch Khối nghị sỹ PDS tại Nghị viện Liên bang Đức, tức Đảng Chủ nghĩa xã hội dân chủ, hậu duệ của SED, Đảng cầm quyền của CHDC Đức trước đây. Trong lần gặp gỡ đó Gysi đã kể với cựu Thủ tướng CHLB Đức một kỷ niệm về người cha của mình, Klaus Gysi, nguyên Bộ trưởng Văn hoá thời CHDC Đức. 

Xin mở ngoặc: Gysi – nói theo ngôn ngữ Đức Quốc Xã – có mẹ là “Do Thái 1/4” („Vierteljüdin“) và bố là “Do Thái 1/2” („Halbjude“), và một người cô bên ngoại của Gysi không phải ai khác mà chính là Doris Lessing, nữ nhà văn Anh được giải thưởng Nobel. Klaus Gysi, bố của Gregor Gysi, là Đảng viên Cộng sản và kịp thoát sang Pháp khi Hitler cầm quyền, nhưng sau đó theo phân công của tổ chức đã cùng vợ chưa cưới là mẹ của Gregor sau này quay lại Đức. Kỷ niệm mà Gregor Gysi kể với Helmut Kohl là câu chuyện khi bố mẹ ông lên tàu thì gặp ngay một toán SS cũng lên tàu và ngồi ngay cùng khoang. Bà mẹ lo sợ gần như bị tắt thở, nhưng ông bố thì làm chủ ngay tình thế và bắt đầu kể hết chuyện tiếu lâm này sang chuyện tiếu lâm khác, mà chỉ là chuyện tiếu lâm Do Thái. Đám SS cười nghiêng ngả và đến khi xuống tầu vẫn không hề biết đó là hai người Do Thái và lại còn là cộng sản gộc 🙂 

Trước khi kể lại về nhận xét của Helmut Kohl – như đã nói đây là cú hích quyết định để họ Trương mua cuốn sách này, và mua luôn hai bản vừa analog vừa digital! – lại phải mở ngoặc thêm một lần nữa: Gregor càng khâm phục sự quả cảm của Klaus Gysi trong thời hoạt động chống phát xít bao nhiêu thì lại càng không cắt nghĩa được sự dè dặt, hay gọi là hèn thì cũng được, của bố ông khi đã là một chính khách cao cấp thời CHDC Đức. 

Và Helmut Kohl đã giải thích cho Gregor về bố của mình như sau: „Wenn er sich in der DDR gegen die SED gestellt hätte, so Kohl, wäre er keiner mehr von den Seinen und mithin sehr einsam geworden unter den eigenen Genossen. Der Mut gegen die Nazidiktatur wurde durch das Gefühl angetrieben und bestärkt, Teil einer kämpferischen Solidargemeinschaft zu sein, die auch etwas mit Märtyrerschaft zu tun hatte, mit der Gewissheit von Wirkungen also, die über den Tod hinaus lebendig geblieben wären.“ („Nếu như dưới thời CHDC Đức mà bố anh chống lại Đảng SED, Kohl nói như vậy, thì hẳn ông ấy sẽ không còn là người đứng trong hàng ngũ nữa, ông ấy sẽ rất cô đơn giữa các đồng chí của chính mình. Còn việc dũng cảm chống lại nền độc tài phát xít thì lại được thúc đẩy và nung nấu bởi cảm xúc là một phần của đội ngũ đoàn kết chiến đấu, trong một nghĩa nào đó cũng là tập thể của những người tử vì đạo, với đức tin rằng hành động của họ sẽ có ý nghĩa vượt qua cả cái chết”). 

Vâng, đấy là phần chia sẻ của “ông trùm tư bản” Helmut Kohl dành cho “ông trùm cộng sản” Gregor Gysi! 

Và đương sự đã nhận xét như thế nào? „Helmut Kohl đã có lý. Tuy nhiên quả thực là tôi đã có phần phiền lòng bởi không phải ai khác mà chính ông ấy đã giải thích cho tôi về ông bố của mình, và giải thích tốt hơn là chính bản thân tôi“!

Gregor GysiEin Leben ist zu wenig, Autobiographie, Aufbau-Verlag Berlin, 2017, 2. Aufl., 583 Seiten, 24,00 €

Lesung mit der Schriftstellerin Isabelle Müller aus dem Bestseller „Loan – Aus dem Leben eines Phönix“ und Vorstellung der LOAN Stiftung

Plakat LOAN-Lesung-07.12.2017

Auf Einladung der Deutsch-Vietnamesischen Gesellschaft e.V. (DVG) und der Vereinigung der Vietnamesen in Berlin & Brandenburg e.V. liest die eurasische Schriftstellerin Isabelle Müller am Donnerstag, den 07. Dezember 2017 (Sewanstrasse 43, 10319 Berlin) um 19.00 Uhr aus ihrem Bestseller „Loan – Aus dem Leben eines Phönix“ und stellt die LOAN Stiftung vor. Im Anschluß folgt eine offene Gesprächsrunde zu den Themen Eingliederungsproblematik und Identitätssuche von Vietnamesen in Deutschland.

 

P r o g r a m m

Teil I. Begrüßung & Grußworte

  • Frau Monika Heyder (Vorstandsmitglied der DVG), Begrüßung und Vorstellung über die Autorin und Stifterin Isabelle Müller
  • Grußwort durch Herrn Dr. Nguyễn Việt Đức, Vorsitzender der Vereinigung der Vietnamesen in Berlin & Brandenburg e.V.
  • Grußwort durch Herrn Siegfried Sommer, Vorsitzender der DVG

Teil II. Lesung und Präsentation durch die Schriftstellerin und Stifterin Isabelle Müller

Teil III. Gespräch

  • Gespräch mit der Schriftstellerin und Stifterin Isabelle Müller
  • Diskussion mit dem Publikum (Moderation: Dr. Trương Hồng Quang, Literaturwissenschaftler und Übersetzer)

 

Bertolt Brecht – Thật vậy, tôi đang sống trong thời đen tối

 

Thật vậy, tôi đang sống trong thời đen tối!

Lời thật thà hoá rồ dại. Vầng trán phẳng
Là chỉ dấu của thói vô cảm. Kẻ đang cười
Chỉ là vì
Chưa nhận được tin dữ.

Hỡi ôi, thời ấy là thời nào
Mà câu chuyện về cỏ cây gần như là tội lỗi
Bởi nó cũng đồng nghĩa với sự lặng thinh về bao điều oan trái!
Người đang điềm nhiên đi qua đường
Liệu có còn nghe
Tiếng khẩn cầu của bạn bè đang khốn khó?

Quả thật: tôi vẫn còn kiếm được miếng ăn.
Nhưng mà hãy tin tôi đi: đó chỉ là vận may. Chẳng bất cứ điều gì
Trong những việc tôi làm cho tôi quyền có thể ăn no ngủ yên.
Tôi chỉ vô tình thoát nạn. (Nếu bị may mắn bỏ rơi,
tôi cũng trắng tay thôi.)

Người ta nhủ tôi: Anh hãy ăn đi, hãy uống đi! Hãy hài lòng với những gì đang có!
Nhưng làm sao tôi có thể ăn, làm sao tôi có thể uống
Khi miếng ăn của tôi được dành giật từ miệng kẻ đói, và
Cốc nước tôi uống khiến có người sẽ chết khát?
Cho dù vậy tôi vẫn ăn, vẫn uống.

Tôi cũng muốn trở thành nhà thông thái
Sách xưa dạy:
Hãy lánh xa các tranh chấp của thế gian và
Tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi trong bình an
Bất bạo động
Lấy Thiện trả Ác
Đừng thực hiện những điều ước của mình mà hãy lãng quên chúng
Làm như vậy sẽ trở thành nhà thông thái.
Hết thảy đều là những gì tôi không thể nào làm:
Thật vậy, tôi đang sống trong thời đen tối!

(Trích từ „An die Nachgeborenen / Gửi người hậu thế“, phần 1, in lần đầu trên tờ tuần báo „Die neue Weltbühne / Diễn đàn thế giới mới“, Paris, 15.06.1939)

Bản dịch tiếng Việt của Trương Hồng Quang (30.06.2017)

Bản gốc tiếng Đức:

WIRKLICH, ICH LEBE IN FINSTEREN ZEITEN

Wirklich, ich lebe in finsteren Zeiten!

Das arglose Wort ist töricht. Eine glatte Stirn
Deutet auf Unempfindlichkeit hin. Der Lachende
Hat die furchtbare Nachricht
Nur noch nicht empfangen.

Was sind das für Zeiten, wo
Ein Gespräch über Bäume fast ein Verbrechen ist
Weil es ein Schweigen über so viele Untaten einschließt!
Der dort ruhig über die Straße geht
Ist wohl nicht mehr erreichbar für seine Freunde
Die in Not sind?

Es ist wahr: ich verdiene noch meinen Unterhalt
Aber glaubt mir: das ist nur ein Zufall. Nichts
Von dem, was ich tue, berechtigt mich dazu, mich satt zu essen.
Zufällig bin ich verschont. (Wenn mein Glück aussetzt
Bin ich verloren.)

Man sagt mir: iß und trink du! Sei froh, daß du hast!
Aber wie kann ich essen und trinken, wenn
Ich es dem Hungernden entreiße, was ich esse, und
Mein Glas Wasser einem Verdurstenden fehlt?
Und doch esse und trinke ich.

Ich wäre gerne auch weise
In den alten Büchern steht, was weise ist:
Sich aus dem Streit der Welt halten und die kurze Zeit
Ohne Furcht verbringen
Auch ohne Gewalt auskommen
Böses mit Gutem vergelten
Seine Wünsche nicht erfüllen, sondern vergessen
Gilt für weise.
Alles das kann ich nicht:
Wirklich, ich lebe in finsteren Zeiten!

(Aus „An die Nachgeborenen“, Teil 1, Erstdruck in der Wochenzeitschrift „Die neue Weltbühne“, Paris, 15.06.1939)

Franz Kafka – Zerstreutes Hinausschaun / Nhìn bâng quơ qua cửa sổ

IMG_0473

Was werden wir in diesen Frühlingstagen tun, die jetzt rasch kommen? Heute früh war der Himmel grau, geht man aber jetzt zum Fenster, so ist man überrascht und lehnt die Wange an die Klinke des Fensters.

Unten sieht man das Licht der freilich schon sinkenden Sonne auf dem Gesicht des kindlichen Mädchens, das so geht und sich umschaut, und zugleich sieht man den Schatten des Mannes darauf, der hinter ihm rascher kommt.

Dann ist der Mann schon vorübergegangen und das Gesicht des Kindes ist ganz hell.

Ta sẽ làm gì vào những ngày xuân đang ào ạt tới này? Sáng nay trời xám xịt, vậy nhưng nếu bây giờ bước đến cửa sổ ta sẽ ngạc nhiên khi tựa má vào tay nắm cửa.

Ở phía dưới kia ta nhìn thấy ánh mặt trời, dĩ nhiên đã vào lúc hoàng hôn, phản chiếu trên gương mặt của một cô gái trẻ thơ, cô bé ấy đang đi và thơ thẩn ngắm nhìn xung quanh, và đồng thời ta cũng thấy bóng một người đàn ông đang tiến nhanh tới từ phía sau làm che mờ gương mặt ấy.

Rồi người đàn ông đã đi qua, và gương mặt cô bé giờ đây bừng sáng.

(Aus „Betrachtung“ / Từ tập đoản văn “Quan sát”, tác phẩm đầu tay của Franz Kafka, in năm 1908, lúc tác giả 25 tuổi)

Bản sơ dịch ra tiếng Việt: Trương Hồng Quang (04.06.2017)