Bertolt Brecht – Thật vậy, tôi đang sống trong thời đen tối

 

Thật vậy, tôi đang sống trong thời đen tối!

Lời thật thà hoá rồ dại. Vầng trán phẳng
Là chỉ dấu của thói vô cảm. Kẻ đang cười
Chỉ là vì
Chưa nhận được tin dữ.

Hỡi ôi, thời ấy là thời nào
Mà câu chuyện về cỏ cây gần như là tội lỗi
Bởi nó cũng đồng nghĩa với sự lặng thinh về bao điều oan trái!
Người đang điềm nhiên đi qua đường
Liệu có còn nghe
Tiếng khẩn cầu của bạn bè đang khốn khó?

Quả thật: tôi vẫn còn kiếm được miếng ăn.
Nhưng mà hãy tin tôi đi: đó chỉ là vận may. Chẳng bất cứ điều gì
Trong những việc tôi làm cho tôi quyền có thể ăn no ngủ yên.
Tôi chỉ vô tình thoát nạn. (Nếu bị may mắn bỏ rơi,
tôi cũng trắng tay thôi.)

Người ta nhủ tôi: Anh hãy ăn đi, hãy uống đi! Hãy hài lòng với những gì đang có!
Nhưng làm sao tôi có thể ăn, làm sao tôi có thể uống
Khi miếng ăn của tôi được dành giật từ miệng kẻ đói, và
Cốc nước tôi uống khiến có người sẽ chết khát?
Cho dù vậy tôi vẫn ăn, vẫn uống.

Tôi cũng muốn trở thành nhà thông thái
Sách xưa dạy:
Hãy lánh xa các tranh chấp của thế gian và
Tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi trong bình an
Bất bạo động
Lấy Thiện trả Ác
Đừng thực hiện những điều ước của mình mà hãy lãng quên chúng
Làm như vậy sẽ trở thành nhà thông thái.
Hết thảy đều là những gì tôi không thể nào làm:
Thật vậy, tôi đang sống trong thời đen tối!

(Trích từ „An die Nachgeborenen / Gửi người hậu thế“, phần 1, in lần đầu trên tờ tuần báo „Die neue Weltbühne / Diễn đàn thế giới mới“, Paris, 15.06.1939)

Bản dịch tiếng Việt của Trương Hồng Quang (30.06.2017)

Bản gốc tiếng Đức:

WIRKLICH, ICH LEBE IN FINSTEREN ZEITEN

Wirklich, ich lebe in finsteren Zeiten!

Das arglose Wort ist töricht. Eine glatte Stirn
Deutet auf Unempfindlichkeit hin. Der Lachende
Hat die furchtbare Nachricht
Nur noch nicht empfangen.

Was sind das für Zeiten, wo
Ein Gespräch über Bäume fast ein Verbrechen ist
Weil es ein Schweigen über so viele Untaten einschließt!
Der dort ruhig über die Straße geht
Ist wohl nicht mehr erreichbar für seine Freunde
Die in Not sind?

Es ist wahr: ich verdiene noch meinen Unterhalt
Aber glaubt mir: das ist nur ein Zufall. Nichts
Von dem, was ich tue, berechtigt mich dazu, mich satt zu essen.
Zufällig bin ich verschont. (Wenn mein Glück aussetzt
Bin ich verloren.)

Man sagt mir: iß und trink du! Sei froh, daß du hast!
Aber wie kann ich essen und trinken, wenn
Ich es dem Hungernden entreiße, was ich esse, und
Mein Glas Wasser einem Verdurstenden fehlt?
Und doch esse und trinke ich.

Ich wäre gerne auch weise
In den alten Büchern steht, was weise ist:
Sich aus dem Streit der Welt halten und die kurze Zeit
Ohne Furcht verbringen
Auch ohne Gewalt auskommen
Böses mit Gutem vergelten
Seine Wünsche nicht erfüllen, sondern vergessen
Gilt für weise.
Alles das kann ich nicht:
Wirklich, ich lebe in finsteren Zeiten!

(Aus „An die Nachgeborenen“, Teil 1, Erstdruck in der Wochenzeitschrift „Die neue Weltbühne“, Paris, 15.06.1939)

Franz Kafka – Zerstreutes Hinausschaun / Nhìn bâng quơ qua cửa sổ

IMG_0473

Was werden wir in diesen Frühlingstagen tun, die jetzt rasch kommen? Heute früh war der Himmel grau, geht man aber jetzt zum Fenster, so ist man überrascht und lehnt die Wange an die Klinke des Fensters.

Unten sieht man das Licht der freilich schon sinkenden Sonne auf dem Gesicht des kindlichen Mädchens, das so geht und sich umschaut, und zugleich sieht man den Schatten des Mannes darauf, der hinter ihm rascher kommt.

Dann ist der Mann schon vorübergegangen und das Gesicht des Kindes ist ganz hell.

Ta sẽ làm gì vào những ngày xuân đang ào ạt tới này? Sáng nay trời xám xịt, vậy nhưng nếu bây giờ bước đến cửa sổ ta sẽ ngạc nhiên khi tựa má vào tay nắm cửa.

Ở phía dưới kia ta nhìn thấy ánh mặt trời, dĩ nhiên đã vào lúc hoàng hôn, phản chiếu trên gương mặt của một cô gái trẻ thơ, cô bé ấy đang đi và thơ thẩn ngắm nhìn xung quanh, và đồng thời ta cũng thấy bóng một người đàn ông đang tiến nhanh tới từ phía sau làm che mờ gương mặt ấy.

Rồi người đàn ông đã đi qua, và gương mặt cô bé giờ đây bừng sáng.

(Aus „Betrachtung“ / Từ tập đoản văn “Quan sát”, tác phẩm đầu tay của Franz Kafka, in năm 1908, lúc tác giả 25 tuổi)

Bản sơ dịch ra tiếng Việt: Trương Hồng Quang (04.06.2017)

 

Franz Kafka – Wunsch, Indianer zu werden / Mơ ước trở thành người da đỏ

Kafka5jahre

(Franz Kafka, lúc khoảng 5 tuổi)

Wenn man doch ein Indianer wäre, gleich bereit, und auf dem rennenden Pferde, schief in der Luft, immer wieder kurz erzitterte über dem zitternden Boden, bis man die Sporen ließ, denn es gab keine Sporen, bis man die Zügel wegwarf, denn es gab keine Zügel, und kaum das Land vor sich als glatt gemähte Heide sah, schon ohne Pferdehals und Pferdekopf.

Giá như ta là một người da đỏ, ngay tức khắc có thể khởi hành, đu lên lưng một con ngựa phi nước đại, cúi rạp mình trong gió, chốc chốc lại thoáng rùng mình trên mặt đất rúng động, cho tới lúc nới lỏng đinh thúc ngựa, bởi nào có đinh thúc ngựa, cho tới lúc quẳng dây cương, bởi nào có dây cương, và chưa kịp thấy đồng cỏ đã phát quang hiện lên thì trước mắt đã chẳng còn cổ ngựa và đầu ngựa.

(Aus „Betrachtung“ / Từ tập đoản văn “Quan sát”, tác phẩm đầu tay của Franz Kafka, in năm 1908, lúc tác giả 25 tuổi)

Bản sơ dịch ra tiếng Việt: Trương Hồng Quang (03.06.2017)

Reiner Maria Rilke – Rose, oh reiner Widerspruch / Hoa hồng, ôi mâu thuẫn thanh khiết

rilker

 

Hoa hồng, ôi mâu thuẫn thanh khiết, 

khoái lạc,

không là giấc ngủ của một ai 

dưới bao nhiêu

mí mắt.

Reiner Maria Rilke  (1875-1926), Thơ đề bia mộ

 

Bản gốc tiếng Đức:

Rose, oh reiner Widerspruch, 

Lust,

Niemandes Schlaf zu sein

unter soviel

Lidern.

Rainer Maria Rilke, Imaginärer Lebenslauf / Đường đời tưởng tượng

ralfwerner-1983

Rainer Maria Rilke
(1875-1926)

Đường đời tưởng tượng

Khởi đầu là một thời thơ ấu, vô biên
không khước từ, không mục tiêu. Ôi khoái cảm vô thức.
Chợt ào ạt đến nỗi kinh hoàng, rào chắn, học đường, lao dịch
và cú sập xuống cám dỗ và mất mát.

Bất chấp. Kẻ bị trị biến thành kẻ trị vì
và báo thù kẻ khác cho thất bại của chính mình.
Được ái mộ, sợ hãi, là cứu tinh, là đô vật, người chiến thắng,
nhà vô địch, hết đợt này qua đợt khác.

Rồi sau đó một mình, trong cõi bao la, nhẹ tênh, lạnh lẽo.
Nhưng thẳm sâu trong hình hài tác tạo
có hơi thở rướn về buổi ban đầu, xưa cũ…

Và Thượng đế chồm ra từ chốn mai phục.

Bản dịch tiếng Việt của Trương Hồng Quang
Minh hoạ: Ralph Werner, Không lời (1982), Sơn dầu, Sưu tập cá nhân của N.T.C. và A.F.N., ảnh chụp lại của A.F.N.

 

Bản gốc tiếng Đức:

Imaginärer Lebenslauf

Erst eine Kindheit, grenzenlos und ohne
Verzicht und Ziel. O unbewußte Lust.
Auf einmal Schrecken, Schranke, Schule, Frohne
und Absturz in Versuchung und Verlust. 

Trotz. Der Gebogene wird selber Bieger
und rächt an anderen, daß er erlag.
Geliebt, gefürchtet, Retter, Ringer, Sieger
und Überwinder, Schlag auf Schlag.

Und dann allein im Weiten, Leichten, Kalten.
Doch tief in der errichteten Gestalt
ein Atemholen nach dem Ersten, Alten… 

Da stürzte Gott aus seinem Hinterhalt.

Abbildung: Ralph Werner, Ohne Titel (1982), Öl, Privatsammlung von N.T.C. und A.F.N., Foto von A.F.N.

Rainer Maria Rilke, Herbsttag / Ngày thu

 

Rainer Maria Rilke
(1875-1926)

Ngày thu 

Thưa Cha: giờ đã điểm. Mùa hạ lớn vô cùng.
Xin hãy ngả bóng của Người xuống những đồng hồ mặt trời,
và xin hãy thả gió bay trên các cánh đồng.

Hãy truyền lệnh cho những trái cây cuối cùng mọng nước;
hãy ban cho chúng thêm hai ngày ấm phương Nam,
hãy thúc giục chúng chín đầy và
dồn vị ngọt cuối cùng vào rượu vang nồng đậm.

Giờ ai không nhà, sẽ chẳng xây nhà nữa.
Giờ ai một mình, sẽ còn một mình lâu,
sẽ mải miết thức, đọc, viết những phong thư dài
rồi bồn chồn dạo bước
trên những đại lộ dài, khi lá cuốn trôi.

Bản dịch tiếng Việt của Trương Hồng Quang

Bản gốc tiếng Đức:

Herbsttag

Herr: es ist Zeit. Der Sommer war sehr groß.
Leg deinen Schatten auf die Sonnenuhren,
und auf den Fluren laß die Winde los.

Befiehl den letzten Früchten voll zu sein;
gieb ihnen noch zwei südlichere Tage,
dränge sie zur Vollendung hin und jage
die letzte Süße in den schweren Wein.

Wer jetzt kein Haus hat, baut sich keines mehr.
Wer jetzt allein ist, wird es lange bleiben,
wird wachen, lesen, lange Briefe schreiben
und wird in den Alleen hin und her
unruhig wandern, wenn die Blätter treiben.

Hung Gurst (Nguyễn Tiến Hùng), AUFRÄUMEN /DỌN DẸP

hunggurst

Nguyễn Tiến Hùng (1955-2017)

Trải nghiệm tháng tám – chẳng mấy chốc nữa CHDC Đức sẽ không còn tồn tại
(Tặng Phạm Kỳ Đăng)


Dịch từ nguyên bản tiếng Đức “Aufräumen“, in trên „Đối Thoại – Tạp chí Văn hoá-Xã hội Đức-Việt”, Berlin, Số 4, tháng 10/1992 để tưởng nhớ anh Nguyễn Tiến Hùng, tức nhà văn Việt viết tiếng Đức Hung Gurst, người đồng sáng lập và một trong những biên tập viên và tác giả chủ chốt của Tạp chí Đối Thoại, người bạn từng chung “trải nghiệm tháng tám” (1989).

Trương Hồng Quang

Anh khẽ khàng khép cánh cửa lại sau lưng. Anh vẫn luôn khẽ khàng như vậy – thường thì những lúc đó anh nghĩ con bé đang ngủ. Giật thót mình, anh dừng lại bên cánh cửa. Mở ra trước mắt anh, trong phòng trẻ em, là một cảnh tượng tanh bành.

Con chim cánh cụt nằm chỏng vó, bất lực giữa những chiếc xe ô tô nhỏ, búp bê và các viên đá màu ngổn ngang trên thảm. Hẳn phải có một cái gì đó đã xảy ra, anh nghĩ vậy. Nhưng anh không thể còn nhớ nổi điều gì. Bố mẹ vợ anh đã tới đây để lấy đi quần áo và đồ trang sức của con gái họ. Khi họ bắt đầu tính toán trị giá đồ gỗ trong căn hộ thì anh bị lên cơn đau đầu và bỏ ra ngoài tai câu chuyện mua bán. Ngay sau khi họ rời khỏi căn hộ, anh chui mình vào chăn. Đến khuya thì anh bị một cơn khát cháy họng đánh thức dậy. Cổ của anh bắt đầu đau tấy, và các khuỷu xương của anh trở nên tê cứng…

Anh cố lết vào gian bếp, lấy một chai nước khoáng từ tủ lạnh. Sau đó anh lại gieo mình xuống giường…

Trong giấc ngủ chập chờn, anh nghe tiếng chân đi lại ngoài hành lang. Một lát sau anh nghe giọng nói của bố mẹ vợ từ phòng khách vọng vào. Ngay sau đó, anh nhắm nghiền mắt lại.

Lúc anh tỉnh dậy thì đã là buổi trưa. Ánh nắng dọi qua cửa sổ. Anh cảm thấy chóng mặt, đầu vẫn còn đau buốt. Anh đứng dậy, mở cửa sổ phòng khách. Căn hộ của anh bỗng nhiên trở nên thật xa lạ và trống rỗng. Sau đó anh đi vào phòng trẻ em… “Hẳn phải có điều gì đó đã xảy ra”, anh lẩm bẩm suốt cả một lúc…

Trời tối dần. Người đàn ông quỳ xuống giữa căn phòng tan hoang. Anh nhặt các hạt cườm bằng nhựa và hòn bi thuỷ tinh rồi cho hết vào một cái hộp. “Bình thường ra thì chúng phải được để ở trong này”, anh nói và tìm cách nhớ lại nơi cất các thứ đồ chơi đang nằm ngổn ngang quanh mình.

“Ann có trật tự của riêng nó, con bé hẳn sẽ vui nếu tất cả vẫn ở nguyên chỗ cũ…”, anh lẩm bẩm. Một cách cẩn trọng và kiên nhẫn như đang chơi trò ghép hình, anh lần lượt đặt các thứ trở lại vị trí cũ trên giá đựng đồ chơi. Con chim cánh cụt thì anh đặt lên gường. Chỗ của con thú bông này luôn là ở đây. Anh đã mang con chim cánh cụt từ Berlin về cho con gái, lúc nó mới một tuổi. Dạo đó con bé và con thú bông trông thật giống nhau, cả Ann cũng có màu tóc đen huyền.

“Khỉ thật”, anh thở dài, “sao giường lại lạnh toát thế này.”

Chiếc giá sách bên cạnh giường ngủ cũng bị xáo trộn lung tung. Anh không biết là con gái mình có nhiều sách đến vậy. Phần lớn những cuốn sách đó là do mẹ của nó mua. Còn anh thì lại hay kể cho con nghe chuyện cổ tích hay các câu chuyện khác. Những câu chuyện của anh khiến con bé rất thích thú. Chỉ có mấy cuốn sách về thổ dân da đỏ là do anh mua cho nó. Ann rất yêu chúng, những cuốn sách này. Con bé muốn được là một đứa trẻ con thổ dân da đỏ.

“Nó rất thích khi ở đây. Con và em ngủ trong lều và Ann có cảm tưởng đã trở thành một cô bé thổ dân da đỏ thực thụ”, mẹ của con bé đã kể lại cho anh như vậy qua điện thoại từ một trại tỵ nạn ở Budapest. “Con bé mãi mãi thuộc về anh, cũng như thuộc về em, chừng nào anh còn sống”, cô nói như vậy trước lúc cúp máy.

Anh cảm thấy một cơn nhói đau trong lồng ngực khi nhớ lại lời vợ.

“Nếu Ann mà biết trước…”, anh lẩm bẩm, “mình không được trở về nhà nữa thì chắc nó đã mang theo những cuốn sách đẹp đẽ này”.

Ánh mắt người đàn ông dừng lại một lát ở một tấm tranh treo trên tường – một phong cảnh xa xôi, nằm đâu đó ở vùng Viễn Đông. Bỗng chốc tất cả đều trở nên mờ ảo trước mắt anh… Người đàn ông cúi xuống, há to miệng, chậm rãi trút ra một tiếng thét lặng câm từ lồng ngực.

Nguồn: Bản gốc “Aufräumen“, in trên „Đối Thoại – Tạp chí Văn hoá-Xã hội Đức-Việt”, Berlin, Số 4, tháng 10/1992, trang 35

hung-gurst-aufraumen-de