Reiner Maria Rilke – Rose, oh reiner Widerspruch / Hoa hồng, ôi mâu thuẫn thanh khiết

rilker

 

Hoa hồng, ôi mâu thuẫn thanh khiết, 

khoái lạc,

không là giấc ngủ của một ai 

dưới bao nhiêu

mí mắt.

Reiner Maria Rilke  (1875-1926), Thơ đề bia mộ

 

Bản gốc tiếng Đức:

Rose, oh reiner Widerspruch, 

Lust,

Niemandes Schlaf zu sein

unter soviel

Lidern.

Rainer Maria Rilke, Imaginärer Lebenslauf / Đường đời tưởng tượng

ralfwerner-1983

Rainer Maria Rilke
(1875-1926)

Đường đời tưởng tượng

Khởi đầu là một thời thơ ấu, vô biên
không khước từ, không mục tiêu. Ôi khoái cảm vô thức.
Chợt ào ạt đến nỗi kinh hoàng, rào chắn, học đường, lao dịch
và cú sập xuống cám dỗ và mất mát.

Bất chấp. Kẻ bị trị biến thành kẻ trị vì
và báo thù kẻ khác cho thất bại của chính mình.
Được ái mộ, sợ hãi, là cứu tinh, là đô vật, người chiến thắng,
nhà vô địch, hết đợt này qua đợt khác.

Rồi sau đó một mình, trong cõi bao la, nhẹ tênh, lạnh lẽo.
Nhưng thẳm sâu trong hình hài tác tạo
có hơi thở rướn về buổi ban đầu, xưa cũ…

Và Thượng đế chồm ra từ chốn mai phục.

Bản dịch tiếng Việt của Trương Hồng Quang
Minh hoạ: Ralph Werner, Không lời (1982), Sơn dầu, Sưu tập cá nhân của N.T.C. và A.F.N., ảnh chụp lại của A.F.N.

 

Bản gốc tiếng Đức:

Imaginärer Lebenslauf

Erst eine Kindheit, grenzenlos und ohne
Verzicht und Ziel. O unbewußte Lust.
Auf einmal Schrecken, Schranke, Schule, Frohne
und Absturz in Versuchung und Verlust. 

Trotz. Der Gebogene wird selber Bieger
und rächt an anderen, daß er erlag.
Geliebt, gefürchtet, Retter, Ringer, Sieger
und Überwinder, Schlag auf Schlag.

Und dann allein im Weiten, Leichten, Kalten.
Doch tief in der errichteten Gestalt
ein Atemholen nach dem Ersten, Alten… 

Da stürzte Gott aus seinem Hinterhalt.

Abbildung: Ralph Werner, Ohne Titel (1982), Öl, Privatsammlung von N.T.C. und A.F.N., Foto von A.F.N.

Rainer Maria Rilke, Herbsttag / Ngày thu

 

Rainer Maria Rilke
(1875-1926)

Ngày thu 

Thưa Cha: giờ đã điểm. Mùa hạ lớn vô cùng.
Xin hãy ngả bóng của Người xuống những đồng hồ mặt trời,
và xin hãy thả gió bay trên các cánh đồng.

Hãy truyền lệnh cho những trái cây cuối cùng mọng nước;
hãy ban cho chúng thêm hai ngày ấm phương Nam,
hãy thúc giục chúng chín đầy và
dồn vị ngọt cuối cùng vào rượu vang nồng đậm.

Giờ ai không nhà, sẽ chẳng xây nhà nữa.
Giờ ai một mình, sẽ còn một mình lâu,
sẽ mải miết thức, đọc, viết những phong thư dài
rồi bồn chồn dạo bước
trên những đại lộ dài, khi lá cuốn trôi.

Bản dịch tiếng Việt của Trương Hồng Quang

Bản gốc tiếng Đức:

Herbsttag

Herr: es ist Zeit. Der Sommer war sehr groß.
Leg deinen Schatten auf die Sonnenuhren,
und auf den Fluren laß die Winde los.

Befiehl den letzten Früchten voll zu sein;
gieb ihnen noch zwei südlichere Tage,
dränge sie zur Vollendung hin und jage
die letzte Süße in den schweren Wein.

Wer jetzt kein Haus hat, baut sich keines mehr.
Wer jetzt allein ist, wird es lange bleiben,
wird wachen, lesen, lange Briefe schreiben
und wird in den Alleen hin und her
unruhig wandern, wenn die Blätter treiben.

Hung Gurst (Nguyễn Tiến Hùng), AUFRÄUMEN /DỌN DẸP

hunggurst

Nguyễn Tiến Hùng (1955-2017)

Trải nghiệm tháng tám – chẳng mấy chốc nữa CHDC Đức sẽ không còn tồn tại
(Tặng Phạm Kỳ Đăng)


Dịch từ nguyên bản tiếng Đức “Aufräumen“, in trên „Đối Thoại – Tạp chí Văn hoá-Xã hội Đức-Việt”, Berlin, Số 4, tháng 10/1992 để tưởng nhớ anh Nguyễn Tiến Hùng, tức nhà văn Việt viết tiếng Đức Hung Gurst, người đồng sáng lập và một trong những biên tập viên và tác giả chủ chốt của Tạp chí Đối Thoại, người bạn từng chung “trải nghiệm tháng tám” (1989).

Trương Hồng Quang

Anh khẽ khàng khép cánh cửa lại sau lưng. Anh vẫn luôn khẽ khàng như vậy – thường thì những lúc đó anh nghĩ con bé đang ngủ. Giật thót mình, anh dừng lại bên cánh cửa. Mở ra trước mắt anh, trong phòng trẻ em, là một cảnh tượng tanh bành.

Con chim cánh cụt nằm chỏng vó, bất lực giữa những chiếc xe ô tô nhỏ, búp bê và các viên đá màu ngổn ngang trên thảm. Hẳn phải có một cái gì đó đã xảy ra, anh nghĩ vậy. Nhưng anh không thể còn nhớ nổi điều gì. Bố mẹ vợ anh đã tới đây để lấy đi quần áo và đồ trang sức của con gái họ. Khi họ bắt đầu tính toán trị giá đồ gỗ trong căn hộ thì anh bị lên cơn đau đầu và bỏ ra ngoài tai câu chuyện mua bán. Ngay sau khi họ rời khỏi căn hộ, anh chui mình vào chăn. Đến khuya thì anh bị một cơn khát cháy họng đánh thức dậy. Cổ của anh bắt đầu đau tấy, và các khuỷu xương của anh trở nên tê cứng…

Anh cố lết vào gian bếp, lấy một chai nước khoáng từ tủ lạnh. Sau đó anh lại gieo mình xuống giường…

Trong giấc ngủ chập chờn, anh nghe tiếng chân đi lại ngoài hành lang. Một lát sau anh nghe giọng nói của bố mẹ vợ từ phòng khách vọng vào. Ngay sau đó, anh nhắm nghiền mắt lại.

Lúc anh tỉnh dậy thì đã là buổi trưa. Ánh nắng dọi qua cửa sổ. Anh cảm thấy chóng mặt, đầu vẫn còn đau buốt. Anh đứng dậy, mở cửa sổ phòng khách. Căn hộ của anh bỗng nhiên trở nên thật xa lạ và trống rỗng. Sau đó anh đi vào phòng trẻ em… “Hẳn phải có điều gì đó đã xảy ra”, anh lẩm bẩm suốt cả một lúc…

Trời tối dần. Người đàn ông quỳ xuống giữa căn phòng tan hoang. Anh nhặt các hạt cườm bằng nhựa và hòn bi thuỷ tinh rồi cho hết vào một cái hộp. “Bình thường ra thì chúng phải được để ở trong này”, anh nói và tìm cách nhớ lại nơi cất các thứ đồ chơi đang nằm ngổn ngang quanh mình.

“Ann có trật tự của riêng nó, con bé hẳn sẽ vui nếu tất cả vẫn ở nguyên chỗ cũ…”, anh lẩm bẩm. Một cách cẩn trọng và kiên nhẫn như đang chơi trò ghép hình, anh lần lượt đặt các thứ trở lại vị trí cũ trên giá đựng đồ chơi. Con chim cánh cụt thì anh đặt lên gường. Chỗ của con thú bông này luôn là ở đây. Anh đã mang con chim cánh cụt từ Berlin về cho con gái, lúc nó mới một tuổi. Dạo đó con bé và con thú bông trông thật giống nhau, cả Ann cũng có màu tóc đen huyền.

“Khỉ thật”, anh thở dài, “sao giường lại lạnh toát thế này.”

Chiếc giá sách bên cạnh giường ngủ cũng bị xáo trộn lung tung. Anh không biết là con gái mình có nhiều sách đến vậy. Phần lớn những cuốn sách đó là do mẹ của nó mua. Còn anh thì lại hay kể cho con nghe chuyện cổ tích hay các câu chuyện khác. Những câu chuyện của anh khiến con bé rất thích thú. Chỉ có mấy cuốn sách về thổ dân da đỏ là do anh mua cho nó. Ann rất yêu chúng, những cuốn sách này. Con bé muốn được là một đứa trẻ con thổ dân da đỏ.

“Nó rất thích khi ở đây. Con và em ngủ trong lều và Ann có cảm tưởng đã trở thành một cô bé thổ dân da đỏ thực thụ”, mẹ của con bé đã kể lại cho anh như vậy qua điện thoại từ một trại tỵ nạn ở Budapest. “Con bé mãi mãi thuộc về anh, cũng như thuộc về em, chừng nào anh còn sống”, cô nói như vậy trước lúc cúp máy.

Anh cảm thấy một cơn nhói đau trong lồng ngực khi nhớ lại lời vợ.

“Nếu Ann mà biết trước…”, anh lẩm bẩm, “mình không được trở về nhà nữa thì chắc nó đã mang theo những cuốn sách đẹp đẽ này”.

Ánh mắt người đàn ông dừng lại một lát ở một tấm tranh treo trên tường – một phong cảnh xa xôi, nằm đâu đó ở vùng Viễn Đông. Bỗng chốc tất cả đều trở nên mờ ảo trước mắt anh… Người đàn ông cúi xuống, há to miệng, chậm rãi trút ra một tiếng thét lặng câm từ lồng ngực.

Nguồn: Bản gốc “Aufräumen“, in trên „Đối Thoại – Tạp chí Văn hoá-Xã hội Đức-Việt”, Berlin, Số 4, tháng 10/1992, trang 35

hung-gurst-aufraumen-de

 

Tiếu lâm về Đức Quốc Xã

Beim Jüngsten Gericht müssen Stalin, Churchill und Hitler durch einen Sumpf waten. Je mehr einer gelogen hatte, desto mehr wird er einsinken. Churchill sinkt bis zum Knie ein, Stalin bis zum Bauchnabel. Dann kommt Hitler. Er sinkt gar nicht ein.

“Adolf, wie machst du das?”
“Ich steh auf Goebbels.”

Stalin, Churchill và Hitler phải lần lượt lội qua một đầm lầy trong phiên toà xét xử ngày tận thế. Ai nói dối nhiều hơn, kẻ đó sẽ càng bị lún sâu xuống đầm. Churchill lún xuống đến đầu gối, Stalin lún xuống đến rốn. Sau đó Hitler đến lượt nhưng ông ta không hề chìm xuống.
“Adolf, ngươi làm thế nào mà được như vậy?”
“Tôi đứng ở trên Goebbels”.

 

Ein SS-Kommandant zum Juden: “Wenn du errätst, welches meiner beiden Augen aus Glas ist, lass` ich dich laufen.”
Der Jude: “Das linke.”
Der SS-Kommandant: “Das ist richtig! Wie hast du das so schnell erkennen können?”
Der Jude: “Es hat mich so menschlich angeschaut.“

Một sỹ quan SS nói với một người Do Thái: „Nếu mà ngươi đoán được mắt nào trong đôi mắt của ta là mắt bằng thuỷ tinh thì ta sẽ để cho ngươi chạy thoát“.
Người Do Thái: „Mắt bên trái.“
Sỹ quan SS: „Chuẩn! Mà sao ngươi lại có thể nhận ra nhanh như vậy?“
Người Do Thái: „Vì con mắt ấy nhìn tôi thật nhân từ.“


Nguồn:
http://spree-aviv.de/?PID=static%2C…

Hồi tưởng về cháu Nguyễn Q. A.

Hôm nay là ngày tang lễ của cháu. Tôi biết tin dữ về cháu chiều hôm kia, lúc đang dự hội thảo tại một giảng đường đại học cổ kính ở Praha. Tôi chưa bao giờ gặp cháu. Cháu là con trai của H., con gái của dì ruột tôi. Cả H. cũng từ rất nhiều năm rồi tôi chưa có dịp gặp lại. Tháng bảy vừa qua, H. dẫn con trai sang thăm con gái đầu lòng sống ở Pháp, nhân tiện đưa cậu bé đi du lịch một số thành phố châu Âu, trong đó có Budapest và Berlin. Sở dĩ H. mang con trai sang Berlin là vì có gia đình tôi ở đây, ngoài ra có thêm một lý do nữa mà về sau này tôi mới được biết là cháu có nguyện vọng du học ở Đức, H. muốn kết hợp chuyến đi này để tìm hiểu tại chỗ các điều kiện học tập, sinh hoạt của con trai trong tương lai. Do một kế hoạch công việc bất ngờ, đúng vào thời điểm hai mẹ con H. sang Berlin thì tôi lại về Hà Nội. Tại Berlin nhà tôi và con trai tôi ra sân bay đón hai mẹ con H. Để nhà tôi dễ dàng nhận ra hai mẹ con ở sân bay, tôi có viết thư nhờ H. gửi một tấm ảnh mới chụp của hai mẹ con. Và nhờ thế lần đầu tiên tôi mới được thấy ảnh cháu.

Ảnh này hai mẹ con chụp ở Budapest trước lúc bay sang Berlin, trong một ngày đẹp trời. H. và con trai đứng trên một quảng trường ngập nắng, phía sau lưng là một toà lâu đài đồ sộ, cổ kính, ở giữa có một tháp cao. Nổi bật trên vòm cổng toà nhà, ngay dưới chân tháp, có một tấm áp phích lớn với dòng chữ viết hoa: “REFUGEES WELCOME”. Trong ảnh H. thật tươi trẻ và rạng rỡ bên cạnh cậu con trai cao hơn mẹ một cái đầu. H. mặc váy hoa, đeo kính râm, đầu đội mũ phớt màu trắng, hơi có chút nhí nhảnh và trẻ hơn nhiều so với hình dung của tôi. Anh con trai đi giày thể thao, mặc quần soóc ka ki, áo thun có các đường sọc ngang đậm màu nâu, vai đeo ba lô. Bàn tay phải của bà mẹ đặt trên cổ tay trái của con, vẻ mặt cậu bé hơi tư lự, cậu đứng thẳng và không nghiêng người về phía mẹ (con trai và đã mười tám tuổi rồi mà), tuy nhiên vẫn toát đầy vẻ bình an và tin cậy. Tôi đoán H. đã không vô cớ khi chọn tấm hình này gửi cho tôi, đơn giản đó là sự ghi dấu một khoảng khắc thật đẹp và hạnh phúc của hai mẹ con, trong một không gian mới lạ, hàm chứa cả rất nhiều hy vọng về tương lai.

Ở Hà Nội tôi thường xuyên liên lạc sang Berlin, từ lúc hai mẹ con H. xuống sân bay. Đặc biệt vào buổi tối thứ hai và cũng là buổi tối cuối cùng của hai mẹ con ở nhà tôi, chúng tôi còn lập cả cầu truyền hình qua điện thoại di động, truyền trực tiếp cảnh ca hát rất vui từ một cuộc liên hoan gia đình ở Hà Nội. Tuy nhiên cả trong lần truyền hình đó, chỉ có H. và nhà tôi có mặt ở phòng khách, con trai H. ở một mình trên phòng của cháu. Về sau này nhà tôi nhận xét cháu có tính cách dễ thương song cũng khá rụt rè. Trong ngày thứ hai, nhà tôi đưa hai mẹ con đi tham quan thành phố, đến những điểm quan trọng nhất mà người ta có thể tới được bằng phương tiện giao thông công cộng. Bữa trưa, nhà tôi dẫn hai mẹ con H. đến Trung tâm Sony với mái lợp bằng những dải vải bạt rất độc đáo tượng trưng ngọn núi Fujiyama đang phủ tuyết và chiêu đãi khách từ quê nhà món đùi lợn hầm đặc trưng của Đức mà tôi và bạn bè rất ưa chuộng ở đó. Chiều tối ngày thứ ba mẹ con H. bay trở lại Paris, cả ngày hôm đó H. và con trai chỉ ở nhà, H. thăm vườn, trò chuyện cùng nhà tôi rồi đọc sách, anh con trai thì xem phim trên phòng của cháu. Một ngày sau khi hai mẹ con H. rời Đức thì tôi cũng từ Hà Nội bay trở lại Berlin. Sau đó H. và tôi liên lạc với nhau qua thư điện tử, có một lần tôi cũng nói chuyện qua điện thoại với H., sau khi hai mẹ con đã trở lại Hà Nội. Tôi gửi cho H. các thông tin về du học Đức. Ở Hà Nội, em trai tôi cũng cho biết đã hẹn với H. sẽ dẫn hai mẹ con đến văn phòng du học của một người bạn thân của tôi ở Hà Nội để dần chuẩn bị các thủ tục cho cháu.

Tôi ghi lại những dòng này trên chuyến xe buýt từ Praha đi về vùng miền Nam nước Séc, mở đầu cho một chương trình tham quan hậu hội thảo. Trên xe là các nhà học giả và trí thức Việt Nam nổi tiếng từ trong và ngoài nước mà tôi vô cùng kính trọng và yêu quý. Và nhà tôi cũng đi cùng tôi, bên cạnh nàng tôi cảm thấy thật bình an. Con trai của chúng tôi không đi cùng, cháu ở nhà và đang viết bài tốt nghiệp về một đề tài ngữ nghĩa học. Hàng ngày chúng tôi gọi điện, chát qua video với cháu, đặc biệt từ sau khi biết tin dữ về con trai của H. chúng tôi càng phải dặn dò cháu nhiều điều hơn. Thế giới mà chúng ta đang sống thật bất an, dù ở bất cứ nơi đâu. Trong ngày hôm nay, nỗi đau lớn nhất ở trên toàn thế giới là nỗi đau mà H., em tôi, phải trải qua. Hồi tưởng về cháu qua tấm ảnh duy nhất mà tôi có được về mẹ con em, tôi thầm cầu mong em và gia đình em sẽ giữ mãi muôn vàn những hình ảnh như vậy trong tim để tiếp tục có nghị lực sống. Những người thân yêu nhất của chúng ta không bao giờ mất hẳn, ta hãy tin và được phép tin như vậy.

Nam sinh ĐH Bách Khoa tử vong bất thường: Hiền lành, học giỏi

Tiếu lâm thời CHDC Đức /DDR-Witze

9783861539148

Honecker und Mielke gehen an einem klaren Wintertag in Wandlitz spazieren. Plötzlich entdecken sie, dass jemand „Honecker ist doof“ in den Schnee gepinkelt hat. Honecker ist fassungslos, Mielke versichert, den Unhold bis zum nächsten Tag zu verhaften. Tags darauf berichtet er Honecker: „Wir haben den Urin analysiert: Es ist Egon Krenz.“ – „So ein Dreckskerl, und der sollte mein Nachfolger werden“, wütet Honecker. „Das ist noch nicht alles“, sagt Mielke. „Wir haben Schriftproben genommen. Die Handschrift stammt von Margot.“

Vào một ngày mùa đông đẹp trời Honecker và Mielke đi dạo ở Wandlitz. Bỗng nhiên họ phát hiện một dòng chữ do kẻ nào đó đã đái lên tuyết: “Honecker là thằng ngố!” Honecker choáng váng, Mielke hứa đến ngày hôm sau sẽ tóm cổ được kẻ phản nghịch. Ngày hôm sau ông ta báo cáo với Honecker: “Chúng tôi đã phân tích mẫu nước tiểu: Đó là Egon Krenz”. – “Thật là một kẻ khốn kiếp, vậy mà hắn lại muốn thành người kế nhiệm của tôi”, Honecker giận dữ hét lên. “Thưa vẫn chưa hết” – Mielke nói tiếp. “Chúng tôi đã so sánh các mẫu chữ viết. Nét chữ viết tay này là của Margot ạ.”

 

Từ điển dành cho người không sống qua thời CHDC Đức / Lexikon für die Nicht-DDR-Bürger:

  • Erich Honecker (1912-1994): Tổng bí thư Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức (SED) và Chủ tịch Hội đồng nhà nước CHDC Đức
  • Erich Mielke (1907-2000): Bộ Trưởng Bộ An ninh quốc gia CHDC Đức
  • Wandlitz: Khu biệt thự dành cho các Uỷ viên Bộ chính trị thời CHDC Đức ở ngoại ô Berlin
  • Egon Krenz (*1937): Bí thư thứ nhất Đoàn Thanh niên Tự do Đức (FDJ), về sau là người kế nhiệm Honecker trên hai cương vị Tổng bí thư Đảng và Chủ tịch Hội đồng nhà nước
  • Margot Honecker (1927-2016): Vợ của Erich Honecker, Bộ trưởng Bộ giáo dục CHDC Đức

Nguồn: „Cười để chống lại sự bất lực – Chuyện tiếu lâm CHDC Đức trong tầm ngắm của An ninh quốc gia“ („Lachen gegen die Ohnmacht – DDR-Witze im Visier der Stasi“), Nxb Ch. Links Verlag, Berlin 2016, 140 trang, 10,00 €

http://m.faz.net/aktuell/gesellschaft/interview-mit-bodo-mueller-ueber-humor-in-der-ddr-14398343.html#GEPC;s6