Nguyễn Thị Thu Lan (1928-2003), Đại gia đình cụ Thức

Ba chị em gái (từ trái sang phải: Thanh Thúy, Bạch Đào, Thu Lan)

Thế hệ cháu Phúc, Thùy An, Thùy Dương gọi cha mẹ tôi bằng cụ.

Cha tôi mất năm 1950. Hồi đó anh tôi là trưởng công an ở Nghi Lộc. Đám tang cha tôi, người đi tiễn rất đông (nếu lùi lại bốn năm sau thì nguy hiểm vì nhà tôi đều bị quy là địa chủ, đối tượng của cách mạng ruộng đất). Tôi lúc ấy đã hơn 20 tuổi, thế mà còn ngây dại. Ý niệm về cha tôi cũng mờ nhạt. Chỉ nhớ cha là người hay đọc sách, tư lự và thường dùng ngón tay trỏ viết chữ trong khoảng không. Tuy không có bằng tú tài, cử nhân như các bác trong họ – bác Tú Đồng, bác Tú Hai – nhưng cha đã học trường Quốc tử giám Huế nên cha là người học giỏi chữ nhất trong họ, phụ trách viết gia phả cho họ Nguyễn Đình. Cha tôi tính sạch sẽ, thích lau chùi và thay đổi vị trí trong nhà, và đặc biệt chăm vườn hoa cây cảnh. Bao nhiêu năm qua, vật đổi sao dời, nhưng tôi vẫn nhớ như in “vườn hoa” (tên gọi để phân biệt vườn rau và cây ăn quả) mà cha tôi thiết kế chăm sóc. Vườn bao bọc bởi hàng rào ngâu, cha thường dùng kéo xén cây tạo dáng rất đẹp. Trong vườn nào lựu đỏ, lựu trắng, khóm nhài, luống huệ trắng thơm ngát. Chính giữa vườn, một bể cá có hòn non bộ với chú ngư, chú tiều, cây sinh, cây si… Trong làn nước trong xanh, lập lờ những cánh rêu, từng đôi cá vàng, cá bạc vảy lấp lánh, đuôi vây xòe ra, bơi lượn lờ, đôi mắt mở tròn vo. Giáp với vườn hoa là cái sân gạch rộng mênh mông, mỗi đêm trăng sáng mùa hè, khi có khách đến ăn cơm, hoặc con cái về đông lại dọn bàn ăn ra ngoài đó. Từng cụm chuyện trò với nhau rôm rả dưới ánh trăng mát mẻ, trong bầu không khí tịch mịch của vùng quê.

Cha tôi sống lặng lẽ, hơi nhút nhát. Đối với chính quyền thực dân phong kiến lúc bấy giờ, thái độ của cha là “kính nhi viễn chi”. Người chỉ quanh quẩn trong nhà, đi chơi các bác, các chú và đến nhà thờ họ Nguyễn Đình những ngày giỗ tết. Còn quan hệ đối ngoại là mẹ tôi.

Mẹ tôi xuất thân trong gia đình quan lại nghèo. Ông ngoại tôi đậu cử nhân (chữ Nho) và làm tri huyện, tục gọi là cụ huyện Làng Chay, theo tên gọi của nơi mà ông bà ngoại tôi ở. Ông ngoại tôi mất trước khi tôi sinh ra. Ông được thăng tri phủ, nhưng theo phong trào Cần Vương nên bị chính quyền thực dân phong kiến bắt và ốm chết. Còn bà ngoại tôi thường đến chơi với gia đình tôi. Chính bà ngoại đã giúp đỡ khi mẹ trở dạ tôi. Hồi ấy tôi quá bé nên không hình dung lại được bà thế nào.

Mẹ tôi là người chăm chỉ làm việc từ lúc còn bé thơ. Cụ ngoại là người nghiêm khắc nên mới có mấy tuổi mẹ đã cùng dì Giáp, tức chị mẹ tôi, đi cắt cỏ. Mẹ về làm bạn với cha lúc 11 tuổi, cha 13 tuổi. Bà nội đi chợ còn phải mua quà cho cả hai người. Khi lớn hơn một tí, hai người bị các người quản gia trong gia đình bà nội làm cho nhiều phen vất vả.

Mẹ là người vừa nhân hậu, vừa có bản lĩnh. Mẹ là cột trụ trong gia đình, lo cuộc sống cho một đại gia đình mười mấy người cả con, cháu, người ở. Nhờ tấm lòng thương người, sẵn lòng giúp đỡ cưu mang người khác, sống chan hòa với mọi người, nên những lúc gia đình có những bước ngoặt, khó khăn thì được sự thông cảm, chia sẻ, giúp đỡ của người khác. Sau trận ốm của cha tôi gia đình khánh kiệt. Cố Chắt Hệ đã cho mẹ tôi vay vốn để kinh doanh nghề sản xuất nước mắm nên đã khôi phục lại cơ đồ. Mẹ ít khi ở nhà, nếu không ra Hải Phòng áp tải hàng hóa hoặc lấy tiền – nhà buôn lớn là bà Sinh Vinh lúc bấy giờ thường bán được hàng rồi mới trả tiền – thì cũng vào Phan Rang, nơi dì Giáp ở. 

Những lúc mẹ ở nhà thì cũng thường đi đây đi đó, tìm các mối hàng để mua, khi được giá thì bán buôn hoặc bán lẻ cho người khác. Tuy bận bịu việc làm ăn nhưng bao giờ mẹ cũng dành thời gian giáo dục con cái. Việc giáo dục của mẹ tôi cũng nhẹ nhàng, chỉ bằng những câu chuyện tâm tình, hoặc những câu ca dao tục ngữ để truyền lại cho chúng tôi nhân cách sống làm người. Mẹ tôi không biết chữ nhưng khi nào tối đến, những lúc người ở nhà, đều kiểm tra chúng tôi đã thuộc bài chưa mới cho đi ngủ. Mẹ tôi luôn chăm lo việc học cho ba chị em tôi: Đào, Lan, Thúy. Lớp các chị Nhàn, chị Phi, chị Hiếu vì hoàn cảnh gia đình nghèo, đông con nên phải chịu cảnh thất học. Còn chị Lộc thì mẹ tôi cho dì Giáp làm con nuôi lúc nhỏ nên chị cũng chỉ được học ít rồi giúp dì bán hàng, làm việc nhà từ còn ít tuổi. Tôi còn nhớ, mẹ tôi gửi chị em tôi cho chú Mai Khánh dạy ở nhà chú, rồi học thầy Đồ Điệt làm gia sư ở nhà chú Bang Lượng. Hè đến chúng tôi được học hè. Khi thì học với anh Ký con bác Chắt Nga, khi thì học với chú Khang con chú Tự. Hồi tôi học trường làng, những lúc mưa gió mẹ gửi tôi vào nhà bà Bang Kiều, ăn cơm trưa ở đấy. Cơm và cá từng nồi lớn, ăn no thì thôi.

Những lúc chúng tôi làm người phiền lòng, người có đánh chị em tôi bằng con roi vót bé xíu, vừa đánh một roi, vừa giảng giải. Thúy gan dạ nhất, mẹ đánh không bao giờ Thúy khóc. Có một hôm, sau khi mẹ đánh, Thúy khóc nức nở. Mẹ hỏi: “Tại răng lần rồi mẹ đánh con lại khóc?” Thúy nức nở trả lời: “Vì mẹ đánh không thấy đau, con biết mẹ đã yếu, con thương mẹ mà khóc”. Cũng vì gan cóc tía mà một lần tôi và Thúy bị anh đánh. Trong đám cưới chị Thành, hai đứa trêu nhau tắt đèn đi. Thúy bị tôi mách lẻo với anh. Nó không sợ anh đánh vì nó có gan cóc tía. Anh quất cho nó hai roi bật máu. Tội nghiệp em tôi.

Cha tôi sống thời tôi còn bé dại nên kỷ niệm về người cũng ít, chỉ biết tính người ôn hòa, không bao giờ xúc phạm đến người khác, sống giản dị. Bữa ăn dầu có nhiều thức ăn ngon hay không cha cũng chỉ ăn ba lưng bát, không rượu chè cờ bạc, trai gái như các vị đương thời với cha tôi. Được bộ quần áo lụa tơ tằm trắng, cha thỉnh thoảng lấy ra giặt sạch rồi cất vào tủ. Cha tôi rất tôn trọng mẹ tôi, chẳng bao giờ chúng tôi thấy cha mẹ tôi nói to tiếng với nhau. Cha tôi mất, đúng 20 năm sau (1970) mẹ tôi mới mất. Mẹ tôi sống được 79 mùa xuân đã chứng kiến bao vinh nhục của cuộc đời. 

Ông nội tôi, cụ Cai Vạn, là người rất giàu có về tiền bạc và danh vọng và thông gia với những nhà khoa bảng và quan lại. Ông mất sớm, bà nội tôi là vợ hai nên không được gì gia sản và lại điên điên nên mẹ tôi vất vả gánh vác việc nhà chồng, nuôi một đoàn em chồng, toàn các chú: chú Đa, chú Trị, chú Thâu (tức chú Vinh), dựng vợ làm nhà cho các chú. Đẻ thì nhiều (11 người con) nhưng lại hữu sinh vô dưỡng (chỉ nuôi được sáu người trưởng thành). Tất bật lo sinh kế cho cả một đại gia đình, nhưng mẹ tôi đã chèo chống giỏi, nhờ tài tháo vát, nghị lực và sự giúp đỡ của nhiều người. Nhờ vậy các con không bị đói rách, được học hành, xây dựng được nhà cửa khang trang, tiện nghi trong gia đình đầy đủ so với thời bấy giờ. 

Thời mẹ tôi mới sinh các chị Nhàn, chị Phi, anh Phượng, chị Hiếu nhà tôi nghèo lắm. Mẹ tôi thường nói: “Kéo cây rào từ đầu này nhà đến đầu kia nhà không có cái gì”. Phải chăng vì vậy mà mẹ tôi cho chị Thành tôi làm con nuôi bà Thái ở Hải Phòng và cho chị Lộc tôi làm con nuôi dì Giáp? Thật thương cho các chị và thương cho mẹ tôi. Thời đó đã làm gì có sinh đẻ có kế hoạch như bây giờ, đẻ chỉ là sự tự nhiên, rồi đẻ ra, nuôi lớn như thế nào xã hội đâu có quan tâm như bây giờ. Từ lúc chị Đào tôi sinh ra, gia đình cũng đã nuôi được người giúp việc, cha mẹ tôi đã làm được nhà cao cửa rộng. Căn nhà đó cha mẹ tôi đã dành dụm mười năm công sức, tiền bạc mới làm nổi. Sau này, thời chiến tranh chống Mỹ hư hỏng nhiều không có tiền sửa lại, anh trai tôi lại không có ý định ở lại nơi chôn rau cắt rốn nên đã bán đi. Sau này vài lần về quê, tôi không lúc nào đặt chân lên mảnh đất cũ đã ghi bao kỷ niệm của gia đình tôi, của chị em tôi thời thơ bé. Vì người không còn và cảnh đã thay đổi khác xưa, nhìn lại chỉ thêm đau lòng.

Ngồi viết lại những dòng này, tôi đã 70 tuổi. Sáu anh chị em trưởng thành nay chỉ còn bốn chị em gái cùng ở Hà Nội, chỉ cách nhau mười cây số trở lại.

(Trích từ Hồi ký, viết năm 1997, bản điện tử do cháu nội Trương Thùy An thực hiện)

Làng thì ở đâu cũng là làng

Sáng hôm nay tôi mang xe ô tô đi chữa ở một xưởng cách nhà tôi chỉ mấy nóc nhà. Vào giờ chiều khi đến nhận xe ở xưởng thì ông chủ cho biết xe đã chữa được đỗ ở đâu đấy ngoài đường. Lúc tôi đang loay hoay đi tìm xe thì có một bà cụ, theo phỏng đoán của tôi chừng 70 tuổi hoặc trẻ hơn, dừng lại và rất thân thiện hỏi liệu bà có thể giúp đỡ được gì. Sau một hai phút trò chuyện sôi nổi và hai bên đã tường tận về việc xe tôi vừa được chữa, nhà của tôi ở phía cuối làng v.v. thì tôi chợt nhận ra xe của mình đã được nhân viên của xưởng mang đến đỗ ngay trước cổng nhà. Bà cụ khen cách làm việc của xưởng này, bà cho biết bà cũng là khách hàng lâu năm ở đó và biết ông chủ xưởng từ lúc người đó còn là một chàng trai trẻ.

Từ chuyện nọ lan man sang chuyện kia, hoá ra bà cụ cũng biết rất rõ về gia cảnh của ông chủ cũ ngôi nhà của tôi, đặc biệt là câu chuyện tình ái khá ngang trái của ông (tiếc là không thể kể lại kỹ hơn ở đây, chỉ có thể bật mí là cái kết cục của nó cũng chính là nguyên nhân để ông bán nhà gần tám năm về trước). Bà cũng cho biết bà mẹ vợ cũ của ông chủ cũ (cụ ấy năm nay chắc đã gần 100 tuổi) hiện vẫn còn sống, chỉ có con chó của bà ấy là đã chết…

Về làng đã hơn bảy năm nhưng thực tình tôi chỉ quen rất ít người trong làng, ngoại trừ hai gia đình láng giềng trực tiếp, nên những câu chuyện như vậy tất nhiên là vô cùng hấp dẫn. Bà cụ cho biết bà cũng là hàng xóm trong làng, cách nhà tôi khoảng 5-6 nóc nhà gì đó, trên sân có đỗ một con xe Trabant – một hobby của chồng bà. Bà cũng đã nhiều lần thấy phu nhân của họ Trương làm việc như con ong chăm chỉ ở ngoài vườn, và chắc bà cũng đã đọc tên của gia chủ trên biển tên trước cổng nhà, vì sau đó bà xin phép hỏi ông “Doktor” bảo vệ luận án trên lĩnh vực nào. Khi biết tôi học Ngữ văn ở Đại học Leipzig và bà hỏi tên ông thầy của tôi và tôi nói chắc chắn bà không thể biết đến GS. Claus Träger thì bà mỉm cười và cho biết, tất nhiên là bà biết GS. Träger!

Lúc trao đổi những câu chuyện này thì chúng tôi đã đi đến bên cạnh xe ô tô và trước cổng nhà của tôi, lẽ ra cuộc gặp tình cờ đã đến lúc phải dừng lại. Nhưng tất nhiên là tôi vẫn hỏi tiếp và được bà cho biết bà cũng là cựu sinh viên tại Đại học Leipzig, lúc đó còn là Karl-Marx-Universität (KMU). Và lúc bà kể về thời gian khoá học của bà thì tôi phải hỏi lại đến hai lần vì không thể tin vào tai của mình: bà bắt đầu nhập học ở KMU năm 1962, lúc vừa tròn 18 tuổi! Có nghĩa là bà cụ năm nay đã 77-78 tuổi (khi quan sát bà lúc đầu tôi nghĩ bà chỉ mới cuối 60, đầu 70).

Ngoài GS. Träger bà còn nhắc đến GS. Walter Markov, nhà sử học hàng đầu của CHDC Đức, cũng vốn là GS. ở KMU và là thầy dạy trực tiếp của bà. Bà không học cùng ngành ngữ văn như tôi (hay vật lý như một một cựu sinh viên nổi tiếng của KMU – chi tiết này là tôi thêm bây giờ!), mà học ngành Afrikawissenschaften (Châu Phi học), và bà từng là một nhà ngoại giao của CHDC Đức, chủ yếu làm việc ở các nước Phi châu.

Có một chi tiết thú vị nữa là khi tôi nhắc đến việc tôi từng có dịp gặp H. Markov, con trai của GS. W. Markov, lúc ông còn là Bộ trưởng Tài chính kiêm Phó Thủ hiến Bang Brandenburg, thì bà cho hay bà cũng biết H.M., cả về nguyên nhân thực sự liên quan đến việc rút lui khỏi chính trường của ông ấy về sau này.

Lúc chia tay, bà còn cho tôi biết thêm ở ngõ phố bên cạnh có một vị GS. văn chương rất nổi tiếng, tất nhiên ông cũng đã nghỉ hưu nhưng vẫn rất minh mẫn, rồi bà hứa vào một ngày không xa sẽ tổ chức một cuộc hội ngộ của giới văn nhân ở làng!

Và câu chuyện kể của tôi (nhớ đến đâu viết vội đến đấy để không quên) đến đây là hết 🙂

LIỆU CÓ MỘT CƠ QUAN GỌI LÀ “THƯỢNG VIỆN” VÀ CHỨC DANH “THƯỢNG NGHỊ SỸ” Ở BANG BERLIN (CHLB Đức)?

Trong những ngày này trên truyền thông Việt ngữ của cộng đồng người Việt ở Berlin các chữ “Thượng viện” để dịch khái niệm “Senat” và “Thượng nghị sỹ” để dịch khái niệm “Senator” hay “Senatorin” (mà nhân vật được nêu đích danh nhiều nhất là “Thượng nghị sỹ” Dilek Kalayci) xuất hiện với một tần suất dày đặc.

Thực ra chữ “Senat” trong tiếng Đức ít nhất có 5 lớp nghĩa, từ nghĩa gốc trong tiếng Latinh “senatus” (Viện nguyên lão) cho đến các nghĩa khá chuyên sâu như trong khái niệm “Strafsenat” (Tòa hình sự) hay khái niệm “Akademischer Senat” để chỉ một tổ chức đặc thù trong một trường đại học.

Senat = “Thượng viện” và Senator/Senatorin = “Thượng nghị sỹ” đúng là lớp nghĩa phổ biến nhất hiện tại (xem nghĩa 2. trong mục từ “Senat” kèm theo của Từ điển DUDEN), nhằm chỉ một trong hai hội đồng của chế độ lưỡng viện hay quốc hội theo kiểu lưỡng viện (Hạ viện và Thượng viện), mà ví dụ nổi tiếng nhất là Hoa Kỳ.

Khái niệm “Senat” và “Senator”/”Senatorin” khi được dùng để chỉ thiết chế hành pháp ở Berlin (và cả ở Hamburg và Bremen) và các chức danh ở hệ thống này không hề đồng nhất với lớp nghĩa 2. vừa dẫn ở trên. Từ điển DUDEN cũng giải thích rất mạch lạc lớp nghĩa 3 này: Senat = “Landesregierung der Stadtstaaten Hamburg, Bremen und Berlin” (Chính phủ Bang ở các nhà nước đô thị Hamburg, Bremen và Berlin).

Để dễ hiểu hơn và có thể phân biệt với lớp nghĩa 2., tôi đề nghị nên dùng chữ “Chính phủ” khi dịch khái niệm “Berliner Senat” (Chính phủ Bang Berlin) và chữ “Bộ trưởng” chẳng hạn khi dịch khái niệm “Senator für Gesundheit” (Bộ trưởng Y tế). Tương tự như vậy nên dịch “Senatsverwaltung” là “Bộ”. Còn chức danh “Der Regierende Bürgermeister von Berlin” dịch theo nghĩa đen thành “Thị trưởng cầm quyền của Berlin” thì cũng ổn, nhưng trong hệ thống nhà nước Liên bang ở Đức, Berlin (cũng như Hamburg và Bremen) không chỉ đơn thuần là một thành phố, mà cũng là một nhà nước Bang độc lập, có Nghị viện riêng, Hiến pháp riêng. Vậy ông Michael Müller cũng chính là Thủ hiến Bang, có vị trí như 15 Thủ hiến Bang (Ministerpräsidenten) còn lại.

Tôi tin chắc là bà Dilek Kalayci sẽ rất vui mừng khi cộng đồng Việt ngữ chúng ta hiểu đúng chức danh hành pháp của bà (Bộ trưởng Y tế, Điều dưỡng và Bình đẳng giới) mà không trao thêm cho bà một nhiệm vụ mới nữa là “Thượng nghị sỹ” ở một cơ quan Thượng viện rất xa xôi tận trên đồi Capitol ở Washington, D.C., vì chỉ riêng công việc phòng chống Covid-19 ở Thủ đô Đức đã hết sức nặng nề!

TB. Riêng cho chữ “Senat” như là một tổ chức trong trường đại học tôi đã có được một từ tương ứng cực chuẩn trong tiếng Việt, cũng là do học hỏi thêm trong những lần đi dịch cho các cơ quan Bộ Giáo dục giữa hai nước. Nhưng tôi sẽ chỉ bật mí từ này khi “Berliner Senat” không còn được/bị gọi là “Thượng viện Berlin” và bà Bộ trưởng đáng kính Dilek Kalayci không còn được/bị gọi là “Thượng nghị sỹ”.

Nguyễn Huy Thiệp, Das Tigerherz

Illustration von Trần Lê, Zeitschrift Đối Thoại, Heft IV/1992

Es lebte einmal in Hua Tat ein Mädchen namens Pua. Ihre Schönheit suchte in den Dörfern des Gebirges ihresgleichen, ihre Haut war so weiß wie Milch, das Haar weich und lang und die Lippen zinnoberrot. Leider waren Puas beide Beine gelähmt, und so mußte sie seit Jahr und Tag ständig liegen.

Als sich die Geschichte zutrug, zählte Pua sechzehn Jahr. Das sechzehnte Lebensjahr aber ist die Zeit des Frühlings und der Liebe. Liebe kann es häufig geben, doch nur einmal den Frühling des Lebens. Im sechzehnten Jahr bricht der Frühling an, im neunzehnten Jahr folgt schon der Herbst.

Der Frühling in Hua Tat erfüllten die Klänge der Pan-Flöten. Sie umspielten die Stiegen zu den Pfahlhäusern, in denen die jungen Mädchen leben. Unter diesen Stiegen wuchs kein Gras mehr. Dort verblieb nur plattgetretene, silbertrockene Erde.

Unter dem Pfahlhaus von Puas Familie wurde keine Musik auf der Panflöte gegeben. Denn niemand wollte ein Mädchen mit lahmen Beinen zur Frau. Die Männer, die Frauen und selbst die Kinder hatten Mitleid mit Pua. Man brachte den Geistern Opfer dar, man suchte nach heilenden Planzen für Pua. Alles aber war vergebens, ihre Beine blieben reglos.

In jenem Jahr erlebte Hua Tat einen schrecklichen Winter. Der Himmel war launenhaft, Bäume und Pflanzen vertrockneten in den salzigen Nebeln, sogar das Wasser vereiste. In diesem Winter tauchte in den Wäldern Hua Tats ein böser Tiger auf. Er streifte Tag und Nacht um das Dorf herum. Das Dorf verödete, niemand wagte sich mehr in die Gärten und auf die Felder. Abends wurden die Stiegen mit Verhauen aus dornigem Gestrüpp verstellt, die Türen fest verschlossen. Morgens fanden sich bei jedem Pfahlhaus Spuren des Tigers. Das ganze Dorf lebte in Angst und Schrecken.

Es sprach sich aber herum, daß der Tiger ein wundersames Herz habe, es sollte so klein wie ein Kiesel und durchsichtig sein. Dieses Herz sei ein schützendes Amulett, gleichermaßen eine Wundermedizin. Wer es besaß, sollte sein Lebtag reich und glücklich sein. Wenn man aber dieses Herz in Schnaps legte, könne es alle gefährlichen Krankheiten heilen. Wer wie Pua lahme Beine hatte und von diesem Trunk nahm, der würde genesen.

Das Gerücht flog wie ein Sperber durch die Täler. Am Herd, im Pfahlhaus, an den Bächen und auf den Feldern, überall sprach man von dem Tigerherz. Das Gerücht flog durch die Ebenen der Kinh-Leute, und es flog zu den hohen Gipfeln der Berge, auf denen die H’mong leben. So verhält es sich immer mit den Gerüchten, im Munde der Dummen hören sie sich seltsamerweise oft bedeutender an als in dem der Klugen.

Sehr viele Menschen gingen auf die Jagd nach dem Tiger. Es waren darunter die Thais, die Kinhs, die H’mongs und all die anderen. Der eine wollte den Tiger erlegen, um das Herz als Amulett mit sich zu tragen, der andere trachtete wiederum danach, in dem Tigerherz eine Wundermedizin zu besitzen. Wie sollte man ihnen Vorwurf machen? Wer jagt nicht irgendwann einmal in seinem Leben dieser oder jener vergänglichen Erscheinung hinterher?

Unter den Jägern waren die meisten junge Männer aus dem Dorf Hua Tat. Sie wollten des Tigers Herz heimtragen, um mit ihm Puas Krankheit zu heilen.

Die Jagd nach dem Tiger währte fast den ganzen Winter. Aber, als besäße er Zauberkräfte, wußte der Tiger alle Orte zu vermeiden, an denen man auf ihn lauerte. Schließlich wurden umgekehrt die Jäger von dem Tiger verfolgt. Mehr als zehn Menschen starben durch ihn. In den Wind, der durch die Dörfer wehte, mischte sich das Weheklagen. Allmählich verlor man den Mut, die Menge der Jäger fiel von ihrem Vorhaben ab wie reife Mangofrüchte vom Baum, und am Ende verblieb nur ein einziger Jäger. Dieser aber war Kho.

Kho war ein Jüngling aus Hua Tat. Verwaist lebte er wie die Igel und Stachelschweine. Igel und Stachelschweine sind einsam, laufen ihre Gänge allein, und niemand weiß, wie sie fressen und saufen. Kho fand sich nie zu den Treffen und Festen im Dorf ein. Teils weil er so arm, teils weil er so häßlich war. Sein Gesicht war von Pocken zernarbt und der Körper mißgestaltet: die Arme hingen ihm bis zu den Knien, und die mageren Beine bewegten sich so, als wollten sie trippeln. Denn hat man Igel und Stachelschweine schon anders laufen sehen?

Viele Menschen waren überrascht, Kho auf die Jagd gehen zu sehen. Man war um so erstaunter, weil Kho den Tiger jagen wollte, nicht etwa, um sich das Amulett zu verschaffen, sondern um mit der Wundermedizin Pua zu helfen. Nachts sah man Kho unter Puas Pfahlhaus stehen, betäubt wie ein an Liebe Kranker oder auch wie ein Dieb.

Die Menschen von Hua Tat wußten nicht, welche Wege Kho einschlug, um die Fährte des Tigers zu finden. Doch auch der Tiger kannte nicht die Wege der Igel und Stachelschweine. Er witterte die Gefahr und wechselte seine Schlupforte und Gänge. Kho und der Tiger waren jeweils um eine Stunde einer hinter dem anderen…

Eines Nachts – in Puas Pfahlhaus unterhielte man sich gerade -, vernahm man einen Schuß. Er dröhnte wie ein Donnerschlag. Und die Schlucht war erfüllt von furchtbarem Tigergebrüll.

Der Tiger war tot! Tatsächlich, Kho hatte den Tiger erlegt! Wie ein Wald im Gewitter, geriet das ganze Dorf in Bewegung. Die Menschen jauchzten vor Freude. Auch weinten viele. Die Jünglinge aber entzündeten Bambusfeuer, und gingen in den Wald, um nach Kho zu suchen.

Erst kurz vor dem Morgengrauen fand man Kho und den Tiger. Beide waren in einen Abgrund an einen Bach hinabgefallen. Khos Rückgrat war gebrochen, und sein Gesicht vom Tiger zerfleischt. Der Schuß war dem Tier durch die Stirn in den Schädel gedrungen.

Das Merkwürdige aber war, daß die Brust des Tigers bereits erbrochen und das Herz entnommen war. Der Schnitt des Messers war noch frisch, aus den Wunden rann Blut und schäumte zu Bläschen.

Jemand hatte das Herz des Tigers gestohlen! Die Jünglinge von Hua Tat senkten das Haupt und schwiegen. Sie empfanden Scham, Haß und Bitterkeit.

Mehr als zehn Menschen waren in jenem Winter durch den Tiger gestorben. Und nach diesem Vorfall siechten noch zwei Menschen dahin. Dies aber waren Pua und Kho…

Die Bewohner des Dorfes Hua Tat begruben den Tiger an der Stätte seines Todes. Später erwähnte keiner mehr die Sage von der Wunderkraft seines Herzens. Man vergaß sie, wie man so viele Bitterkeiten, die auf dieser Welt vorkommen, vergißt. Und das war nötig.

Es wird wohl nur noch sehr wenige Leute geben, die sich an diese Geschichte erinnern. 

Aus dem Vietnamesischen von Truong Hong Quang      
unter Mitwirkung von Carsten Wurm   

Quelle: „Đối Thoại – Deutsch-vietnamesische Zeitschrift für Kultur und Soziales“, Heft IV, Oktober 1992

Titel des vietnamesischen Originals: “Trái tim hổ”, aus dem Märchenzyklus “Những ngọn gió Hua Tát” (“Die Winde von Hua Tat”), dem Debütwerk des Autors im Jahr 1988

Nguyễn Huy Thiệp, Salz des Dschungels

In memoriam des bedeutendsten vietnamesischen Schriftstellers der Gegenwart Nguyễn Huy Thiệp (1950-2021)

Der Monat nach dem Tet-Fest ist die beste Zeit im Dschungel. An den Bäumen platzen die Knospen. Der Wald bekommt einen lazurgrünen Schein und wird feucht. Die Natur ruht erhaben und satt vom Frühlingsregen.

Es ist einfach herrlich, in dieser Jahreszeit durch den Wald zu laufen, die Füße durch die verwelkten Blätter zu schieben, die reine, gefilterte Luft in die Lunge zu saugen, und ab und an am ganzen Körper zu erschauern, weil ein Wassertropfen von den Zweigen auf die nackten Schultern perlt. Alle Dummheiten und Schurkereien des Alltags sind wie vom Sprung eines  Eichhörnchens auf den Ast eines Maulbeerbaums abgeschüttelt.

Zu solch einer Zeit ging Herr Diểu zur Jagd.

Der Jagdsinn war in ihn erwacht, als sein Sohn, der im Ausland studierte, ihm eine Doppellaufflinte schenkte. Sie war einfach wunderbar, federleicht und wie ein Spielzeug in der Hand. Selbst im Traum vermag man sich so ein schönes Stück kaum vorzustellen. Im sechzigsten Lebensjahr, an einem Frühlingstag mit einer neuen Flinte in den Wald zur Jagd aufzubrechen, sollte es sich da nicht zu leben lohnen.

Herr Diểu gürtete sich, zog sich warm an, nahm die Pelzmütze und die hohen Schuhen. Vorsorglich packte  er eine Portion Klebreis ein. Er lief den ausgetrockneten Bach hinauf bis zur Quelle. Einen halben Kilometer weiter befand sich  das Reich der Kalksteinhöhlen und -grotten.

Herr Diểu bog sich in  einen sich dahinwindenden Pfad ein und lief weiter. Auf den Gắm-Bäumen an den   Wegrändern saßen  Spatzen die Menge, jedoch er schoß nicht nach ihnen. Mit so einer Flinte  auf  Spatzen  schießen,  war das Pulver nicht wert. Spatzen hatte er oft genug gegessen. Sie schmeckten zwar, aber rochen  übel. Und mangelte es ihm im Haus denn am Vogelvieh? Nein, er hatte Tauben genug. 

An einer Wegbiegung schreckte Herrn Diểu  ein Geräusch in einem Haselnusstrauch auf. Ein farbiges Knäuel entwirrte sich vor seinen Augen. Er hielt den Atem an: ein Paar Wildhühner sprang mit den Köpfen nickend hervor, es gackerte laut. Herr Diểu riß die Flinte hoch. Ich werde sie nicht treffen! besann  er sich und schaute ihnen eine Weile reglos nach. Er wartete, bis in den  Wald wieder Stille eingezogen war. Das Paar Wildhühner sollte meinen,  es hätte sich nur eingebildet, einem  Menschen begegnet zu sein. So war es gut für sie. Und auch gut für ihn.

Die felsigen Berge hoben sich hoch und majestätisch vor ihm. Herr Diểu betrachtete sie und prüfte seine Kräfte. Es wäre schön, wenn er einen Affen oder eine Antilope erlegen würde. Mit den Antilopen war es aber nicht so einfach, wußte Herr Dieu.  Nur wenn der Zufall zur Hilfe kam, konnte man sie zur Strecke bringen. Er rechnete sich keine Chance aus.

Nach einiger Überlegung entschloß sich Herr Diểu am Fuße des Kalksteinbergs entlang zu laufen, um im Maulberrwald Affen zu jagen. Das wäre aussichtsreicher und erforderte weniger Anstrengung. Dort lag der “Berg der Blumen und Früchte” und die “Grotte des reinen Wassers”[i]  dieses Tales. Im Maulbeerwald gab es ganze Horden von Affen. Es sollte ihm nicht schwerfallen, einen Affen zu erlegen.

Herr Diểu blieb vor einer Anhöhe, bewachsen mit rankenden Pflanzen, stehen. Er wußte nicht, was das für Pflanzen waren, sie hatten so silbrige Blätter  wie die Nhót-Pflanze, gelbe Blüten hingen wie Ohrringe zu Boden. Er setzte sich nieder und wartete still. Ob die Affen sich hier versammelten? Die Tiere sind so gerissen wie die Menschen, bei der Suche nach Nahrung halten sie Wachen aus. Ein wachender Affe ist sehr hellhörig. Übersah man ihn, hatte man die Jagd verspielt, konnte man den Leitaffen nicht schießen. Zwar war auch der Leitaffe ein Affe. Aber nur dieser Affe war seiner würdig. Er mußte Geduld haben und sich listig verhalten, wollte er ihn vor die Flinte bekommen. 

Herr Diểu verharrte beinahe eine halbe Stunde. Der Frühlingsregen ging anhaltend und fein nieder. Es war warm. Lange mußte es her, daß Herr Diểu so gesessen hatte, ohne zu grübeln, ohne Trauer und Freude und ohne Berechnung. Die  Stille des Waldes durchdrang ihn. 

Plötzlich krachte es im Maulbeerwald, als wütete ein Ungeheuer. Herr Diểu wußte, daß nun das Leittier nahte. Solches Tier verhält sich ungewöhnlich, es tritt mit königlichen Gebahren auf, seine Selbstgefälligkeit grenzt ans Brutale. Herr Diểu lachte innerlich und wartete angespannt.

Einige Minuten nach dem Krach erschien endlich der Leitaffe. Er eilte so schnell daher, daß seine Füße kaum den Boden berührten. Herr Diểu war gebannt von der Kraft und Schnelle. Im Nu entschwand er wieder. Ein Schmerz stach Herrn Diểu in die Seele: er war dem königlichen Anspruch nicht gewachsen. Das Hochgefühl, das ihn seit zu Hause erfüllt hatte, sank in sich zusammen.

Nachdem der Leitaffe verschwunden war, traf die Horde von etwa zwanzig Affen aus verschiedenen Richtungen ein. Der eine hangelte in der Krone, der andere schaukelte sich auf den unteren Ästen. Manche ließen sich auf den Boden herab. Herr Diểu sah drei, die sich beieinanderr hielten: Ein Männchen, ein Weibchen und ein Junges.

Der Gedanke, dieses Männchen zum Ziel zu wählen, bemächtigte sich seiner sofort. Dieser niederträchtige Alte! Ausschweifender Lüstling! Grober Patron! Schmutziger Gesetzgeber! Gemeiner Tyrann!

Herrn Diểu wurde heiß. Er legte Hut und Wattejacke unter ein Baumgestrüpp. Die Portion Reis daneben. Langsam zog er sich in eine Mulde zurück. Er spähte umher und erkannte, daß eine Äffin Wache hielt. Das war günstig. Denn das weibliche Geschlecht neigt zur Zerstreuung. Da, schau an! Was sollte das heißen, sich auf Wache lausen? Dem weiblichen Geschlecht ist der Körper das Nächste. Das ist zwar schlicht und schön. Aber auch voll Traurigkeit…  

Herr Diểu besann sich und schlich auf die wachende Äffin gegen den Wind zu. Erst im Abstand von zwanzig Metern zur Horde konnte man anlegen. Er kroch geschwind und geschickt. Er suchte sich seine Beute aus, so daß er sich des Erfolges bereits gewiß wähnte. Die Natur behielt ihm, und sonst niemand, diesen Affen vor. Er bildete sich ein, selbst wenn sein Körper ungeschickt Laute verurschte oder ihm ein anderes Mißgeschick unterlief, würde das nicht ins Gewicht fallen. Das war absurd, aber dennoch nicht ungewöhnlich.

Trotzdem er diesen Gedanken nachhing, vergaß Herr Diểu nicht, sich behutsam zu verhalten. Er wußte, die Natur verbarg stets Unvorhergesehenes. Vorsicht war nie fehl am Platze. 

Herr Diểu legte das Gewehr auf einen Ast an. Die Familie witterte keine Gefahr zu sein. Der Alte kletterte auf einen Baum, pflückte  Früchte und warf sie  dem Weibchen  und dem Jungen zu. Die besten Früchte behielt er jedoch zurück und fraß sie selbst. Wahrhaft niederträchtig war seine Eigensucht! Herr Diểu drückte ab. Der Schuß erscholl so gewaltig, daß die Affenhorde fast eine ganze eine Minute erstarrte. Die Hände des  Alten lösten sich und er fiel schwer zu Boden. 

Die Panik, die in der Horde ausbrach, ängstigte Diểu so, daß er zitterte. Er hatte Böses angerichtet. Ihm wurden Arme und Beine so weich, als hätte er eine schwere Arbeit verrichtet. Die Horde verschwand flugs im Wald. Die Affenmutter und ihr Junges liefen ihr nach. Plötzlich machte die Äffin kehrt. Der Alte war an der Schulter getroffen. Er versuchte, sich aufzurichten, fiel jedoch wieder hin. 

Die Äffin näherte sich ihm, ängstlich, sie sicherte nach allen Seiten. Die Stille war ihr unheimlich. Der Alte heulte nach ihr, ein klagender und schmerzerfüllter Ruf. Die Äffin blieb stehen, hörte mit Grauen und in Panik.

– Lauf weg!   

Herr Diểu stöhnte. Die Äffin wagte ihr Leben,  näherte sich dem Affen und hob ihn hoch. 

Herr Diểu riß empört das Gewehr hoch. Der Opferwille der Äffin erregte seinen Haß. Heuchlerin, willst deine philisterhaften Tugenden unter Beweis stellen! Aber gerade mit derartigen Szenen beginnt der Verfall der Sitten. Er ließ sich nicht täuschen.

Als Herr Diểu abdrücken wollte, wendete sich die Äffin ihm zu und schaute ihm ins Gesicht. Ihre Augen verrieten Entsetzen. Sie warf den Affen ab und floh. Herr Diểu atmete auf und lachte. Er erhob sich ganz aus dem Versteck. 

– Verdammt!

Herr Diểu fluchte leise. In dem Moment, in dem er vorging, machte die Äffin kehrt. Ich habe verloren, erkennt sie, daß ich ein Mensch bin! So war es, die Äffin ließ ihn nicht aus dem Auge und eilte zu dem Alten. Sie zog ihn schnell und sicher an den Bauch. Beide rollte sich auf die Erde davon. Beide rollten sich auf die Erde davon. Nun wird die Äffin verrückt spielen. Sie wird sich in ihrer Rage aufopfern, weil sie in ihrem Eifer vor der Natur gut dastünde. Und er wäre als Meucher entlarvt! Selbst im Sterben würde sie die Zähne freudig blechern. Wie dem auch seien, er hätte zu leiden, er könnte nicht schlafen und stürbe womöglich zwei Jahre eher, wenn er auf sie schösse. Und alles nur deshalb, weil er das Versteck zwei Minuten zu früh verlassen hatte.

–  Oh Diểu, es ist am Ende… – dachte er traurig  – Wie kannst du nur auf deinen Rheumabeinen mit der Treue und dem Opferwillen der Affen wetteifern wollen…

Als ob sie ihn neckten, liefen die beiden Affen, einander stützend, davon. Von Zeit zu Zeit schwenkte  die Äffin ihre O-Beine so wild, daß es sowohl komisch als auch obszön wirkte. Vor Ärger holte Herr Diểu tief Luft und stampfte mit dem Gewehr auf. Er wünschte, das Tier möge vor Schreck seine Beute fallenlassen.          

Da tauchte vom Steinhügel her das Affenjunge auf. Es ergriff den Trageriemen des Gewehrs und schleifte es davon. Alle drei Affen liefen und krochen nun, als seien sie rasend geworden. Herr Diểu stutzte einen Moment und brach ins Gelächter aus: so vertrackt war seine Lage.

Schreiend und Steine und Erdklumpen nach den Tieren werfend, lief Herr Diểu  hinterher. Die Affen waren außer sich, die Alten liefen in  Richtung Hang, das Affenjunge dem Abgrund entgegen.  Das wäre das letzte, käme das Gewehr weg! dachte Herr Diểu und folgte dem Jungen nach. Der Abstand wurde so gering, daß, wären da nicht die scharfkantigen Felsen gewesen, er mit einem Satz das Gewehr hätte ergreifen können. 

Daß Herr Diểu das Affenjunge bis zum Rand des Abgrunds hetzte, hatte eine unvorhergesehene Folge. Der Trageriemen Hängeschnur des Gewehres festhaltend, rollte er unbedacht in den Abgrund hinab. Ohne Erfahrungen in bedrohlichen Lagen wußte er sich keinen anderen Ausweg.

Herr Diểu wurde blaß und brach in Schweiß aus. Er stand am Rande des Abgrunds und erbebte beim Blick hinab. Von der grundlosen Tiefe hallte das schaurige Heulen des Affenjungen hinauf. In seiner Erinnerung fand Herr Diểu kein vergleichbares Geheul. Er trat entsetzt zurück. Vom Abgrund strömte  ein schauriger und mit dem Todesgeruch versetzter Dunst hinauf. Er drang in jedes Gestrüpp und verdeckte  schnell die Landschaft. Herr Diểu wich zurück. Es mußte schon  lange her sein, vielleicht seit seiner Kindheit, daß Herr Diểu so wie von Gespenstern verfolgt davonlief.   

Am Fuß des Felsen war Herr Diểu erschöpft. Er brach zusammen und blickte zurück in  Richtung des Abgrundes. Jetzt verdeckte ihn der Nebel bereits ganz. Ihm fiel plötzlich ein, daß er sich in jenem grauenerregendem Teil des Tales befand, das die Jäger den Todesschlund nannten. Alljährlich, beinahe regelmäßig, verloren in diesem Schlund Menschen ihr Leben, weil sie dem Nebel in die Falle gingen. 

Oder sind es Geister? – dachte Herr Diểu – Verwaiste Totenseelen alter Jungfern und Junggesellen verwandelten sich oft in die Gestalt weißer Affen? Dieser Affe war weiß. Und er raubte ihm das Gewehr auf so ungewöhnliche Weise, daß  daran zu zweifeln war, ob es mit rechten Dingen zugegangen war.

Ob ich nicht doch träume? – Herr Diểu schaute sich um –

Alles scheint wie im Traum. Er stand auf und blickte überrascht auf den Hang. Über den Felsen in entgegengesetzter Richtung zum Todesschlund war der Himmel klar und ohne jeglichen Nebelstreife, die ganze Landschaft lag nackt und bloß vor ihm.

Ein klagender Ruf wurde laut. Beim Aufschauen erblickte Herr Diểu das angeschossene Männchen, das auf einem Felsen ausgestreckt lag. Die Äffin war nicht zu sehen. Freudig  versuchte er hinaufzuklettern.

Der Felsen war steil und glatt. Sehr mühselig und gefährlich war es, da hinaufklettern zu wollen. Herr Diểu wogte seine Kräfte.  Und dennoch muß ich dich zur Strecke bringen! Herr Diểu tastete sich an den Felsvorsprüngen vor und klomm bedächtig hinauf.

Nach zehn Metern war sein ganze Körper erhitzt. Einen günstigen Stand ausnutzend, zog er sich Schuhe und Kleidung aus und hängte sie an den Ast eines Wildbeerbaums. Nur in Unterhose fühlte er sich leichter. Er kletterte behende weiter und wunderte  sich darüber, daß er noch so flink und zäh war.

Das angeschossene Männchen lag auf einem glatten und wackligen Felsen. Unter dem Felsen öffnete sich ein spannenweiter Riß, durch den er vom Hang getrennt war. Herr Diểu fuhr zusammen. Die Vorstellung, daß der Felsen jederzeit abstürzend konnte, erschreckte ihn. Die launige Natur wollte wohl seinen Mut neuerlich auf die Probe stellen. 

Herr Diểu stemmte sich auf den Ellenbogen nach oben zu. Der Affe war schön anzusehen, sein Fell glänzte fein und gelb. Er lag auf dem Bauch, seine Hände kratzten am Felsen, als wollte er sich davonmachen. Das Blut klebte rot an der einen Schulter. 

Herr Diểu betastete den Leib des Affen und fühlte, daß er  fiebrig warm war. Über zehn Kilo… Herr Diểu schob seine Hände unter die Brust, hob ihn wägend an. Aus der Brust entwich ein leises, bebendes “Hm”, als ob sich der Gott des Todes darüber empörte, daß sich jemand in sein Geschäft mischte. Herrn Diểu‘s Hände zuckten zurück. Der Affe bebte am ganzen Körper und blickte ihn mit stieren Augen betelnd an. Herrn Diểu überkam mit einem Male Mitleid. Der Schuß hatte das  Schulterblatt durchbrochen, etwa vier Zentimeter des Knochens ragten hervor. Wenn der Knochen berührt wurde, wälzte sich der Affe jammervoll herum.

– So kann es nicht bleiben! Herr Diểu pflückte ein Büschel laotischen Grases, preßte es zusammen und steckte es in den Mund, um es durchzukauen. Dann bedeckte er die Wunde des Affen damit. Das zerkaute Gras sollte das Blut gerinnen lassen. Den Affen zog es zusammen, er blickte ihn von der Seite her mit feuchten Augen an. Herr Diểu mied es, in sie hineinzuschauen. 

Nach einer Zeit kroch der Affe in die Arme Herrn Diểu‘s. Aus dem Maul waren die stammelnden Laute eines Kindes zu vernehmen. Herr Diểu verstand ihren flehentlichen Sinn. Ihm wurde übel.

Es wäre einfacher für mich, wenn du dich zur Wehr setzest –  Herr Diểu sah auf den braven Kopf des kleinen Affens und zog die Brauen zusammen – Ich bin alt geworden… Er weiß, daß alte Menschen leicht zu rühren sind. Womit soll ich dich nun verbinden, Affe?  

Herr Diểu dachte nach und zog schließlich seine Unterhose aus. Damit verband er die Wunde des Affens. Als das Blut gestillt war, hörte der Alte zu stöhnen auf. 

In solcher Nacktheit trug Herr Diểu den Affen auf dem Arm, stützte ihn und suchte den Weg zum Fuße des Berges. Auf einmal kamen Geröll und Steine am Hang ins Rollen, als wäre da eine Kraft, die alles zum Fallen brächte. 

Der Berg rutscht! 

Herrn Diểu fuhr es in die Glieder, er klammerte sich entsetzt an einen Felsen. Von dem Weg, den er gegangen war, blieb nur noch ein glatt abgehackter Rumpf übrig. Herr Diểu fand  den Wildbeerbaum nicht mehr, an dem er Hose und Schuh zurückgelassen hatte. Es war zu gefährlich, den Weg nochmals zu nehmen. Er mußte einen Umweg über den hinteren Berghang machen, der etwas weiter, aber sicherer war. 

Erst nach zwei Stunden Suche erreichte Herr Diểu den Fuß des Berges. In der Tat hatte er sich noch nie so abgemüht und erschöpft. Sein Leib war zerschunden. Der Affe war nicht tot noch lebendig. Wollte er ihn weiter schleifen, würde er entsetzlich zu leiden haben. Ihn zu tragen, reichten die Kräfte nicht mehr.

An dem Gestrüpp mit den rankenden Pflanzen, hinter dem er  sich am Morgen versteckt hatte, hielt Herr Diểu ein, um  nach  Hut, Hemd und der Klebreis zu suchen. Es erhob sich dort ein Ameisenhaufen so groß wie eine Strohschütte. Roter Erdschleim überzog den Haufen, auf ihm flatterten unzählige feuchte Ameisenflülgelchen. Verdammt, in einem Ameisenhaufen begraben,  verwandelten sich seine Habseligkeiten in Staub. Stöhnend drehte sich Herr Diểu um und nahm den Affen wieder auf den Arm. 

Es wäre schamlos, so nackig nach Hause zu kommen! – ärgerte sich Herr Diểu – ich würde nur zum Gelächter der Leute werden…

Er hing seinen Gedanken und verlief sich.  Erst nach einer ganzen Weile fand er den Weg wieder.

Das macht doch nichts! – lachte er plötzlich auf – Wer vermochte schon so einen Affen zu erlegen?  Er dürfte fünfzehn Kilo Fleisch bringen… Und so ein gelbes Fell, wie eingefärbt… So ein Tier zu schießen, da war schon verzeihlich, kein einziges Stück seiner Rüstung mehr zu besitzen! 

Ein leises Geräusch ließ sich hinter seinem Rücken vernehmen. Herr Diểu schrack zusammen, wandte sich um und erkannte die Äffin. Bei seinem Anblick verschwand sie wieder im Gestrüpp. Sie mußte sich ihm, ohne daß er es bemerkt hatte, schon am Berg an die Fersen geheftet haben. Er war irritiert. Nach einem weiteren Stück Wegs sah Herr Diểu beim Zurückblicken erneut die Äffin. Wie gemein! Herr Diểu legte das Männchen auf den Boden, ergriff Steine und Erdklumpen und warf nach der Äffin. Sie kreischte auf und lief davon. Aber kurzer Zeit darauf, als Herr Diểu sich umschaute, war sie ihm wieder auf den Fersen.

Schweigend liefen die drei durch den Wald. Die Äffin hatte Ausdauer. Herr Diểu fühlte sich mit einem Mal plötzlich grenzenlos beleidigt. Als verfolgte man ihn und verlangte eine Art Wiedergutmachung.

Jetzt verstand der Affe die Zeichen seiner Gefährtin. Er sträubte sich und machte Herrn Diểu schwer zu schaffen. Dieser  war ausgepumpt, und brachte nicht mehr die Kraft auf, den Affen zu halten. Die Hände des Affens zerkratzten seine Brust derart, daß Blut austrat. Schließlich hielt er es nicht mehr aus, und warf ihn grimmig zu Boden.

Der Affe lag langgestreckt im naßen Gras. Herr Diểu setzte sich traurig dreinschauend hinzu. Nicht weit davon hielt sich die Äffin hinter einem Baum versteckt und beäugte ihn. 

Herr Diểu verfiel in unendliche Trauer, bis auf den Grund seiner Seele. Er starrte auf die beiden Affen und ihm verschwammen die Augen. So schwer lastet die Verantwortung in diesem Sein auf jedem Wesen. 

– Nun, so schenke ich dir das Leben! – Herr Diểu saß für eine Weile still, erhob sich mit einem Ruck und spuckte auf den Boden. Nach kurzem Zögern eilte er von dannen. Als hätte sie auf diesen Moment gewartet, sprang die Äffin hervor, lief zu der Stelle, an der der Affe lag.

Herr Diểu schlug einen anderen Weg ein, um keinen Menschen zu begegnen. Seinen Pfad behinderten viele dornige Pflanzen, aber es gab an ihm auch unendlich viele Tử-huyền-Blumen. Herr Diểu blieb vor Überraschung stehen. Die Tử-huyền-Blumen blüten nur einmal in dreißig Jahren. Wer ihnen begegnet, dem werde Glück zuteil. Sie sind von weißer Farbe,  salzig im Geschmack und so winzig wie der Kopf eines Zahnstochers. Man nennt sie das Salz des Dschungels. Wenn der Dschungel Salz auffängt, ist das ein Zeichen dafür, daß Frieden ins Land einkehrt, und die Ernte gedeiht. 

Indem Herr Herr Diểu das Tal verließ, kam er ins freie Feld. Der Frühlingsregen fiel weich und dicht. Nackt und einsam trottete er dahin. Nach einer Weile entschwand er im Regen.

Nur noch einige Tage, dann begann der Sommer. Es würde wärmer werden. 

Aus dem Vietnamesischen von Trương Hồng Quang
unter Mitwirkung von Carsten Wurm


[i] Motive aus dem klassischen chinesischen Roman „Die Reise in den Westen“  

Theodor W. Adorno, Về ý nghĩa cuộc sống, sức khỏe, người Đức, vai trò của hồi ức, tương quan giữa dối trá và nghệ thuật…

Übersetzungsübungen anhand der unübersetzbaren Sätze von Adorno / Tiêu đề do người dịch đặt, từ những bài tập dịch trên cơ sở những câu văn bất khả dịch của Adorno

(1) “Leben, das Sinn hätte, fragte nicht danach.”
[“Sống mà có ý nghĩa thì chẳng cần phải băn khoăn về ý nghĩa của cuộc sống.”]

(2) “Gesundheit? – Was nützt einem Gesundheit, wenn man sonst ein Idiot ist.”
[“Có sức khoẻ ư? – Khoẻ thì liệu có ích gì, nếu ngoài đó ra ta là một kẻ ngu ngốc.”]

(3) “Ein Deutscher ist ein Mensch, der keine Lügen aussprechen kann, ohne sie selbst zu glauben.”
[“Một người Đức là một người không thể nói lên những điều dối trá mà không tin đó là sự thật.”]

(4) “„…dass in der Jugend unendlich Vieles als Versprechen des Lebens wahrgenommen wird, wovon dann der Alternde, durch die Erinnerung hindurch, erkennt, dass in Wahrheit die Augenblicke solchen Versprechens das Leben selber gewesen sind.
[“Khi còn trẻ có muôn điều được ta coi như là những hứa hẹn về cuộc sống, chỉ khi đã về già, qua lăng kính của hồi ức, ta mới nhận ra sự thật rằng những khoảng khắc hứa hẹn đó chính là cuộc sống.”]

(5) „Es gibt kein richtiges Leben im falschen.“
[“Không thể sống thật trong một cuộc đời giả“]

(6) “Kunst ist Magie, befreit von der Lüge, Wahrheit zu sein.”
[“Nghệ thuật là ma thuật, đã được giải thoát khỏi sự dối trá coi mình là chân lý.”]

(7) „Nach Auschwitz ein Gedicht zu schreiben, ist barbarisch“
[„Sau Auschwitz mà làm thơ là một hành động man rợ“]

(8) “Kunst will das, was noch nicht war, doch alles, was sie ist, war schon.”
[“Nghệ thuật muốn là cái chưa từng đã, nhưng tất cả những cái mà nó là, thì lại chỉ đã từng.”]

(9) “Wir verstehen nicht die Musik – sie versteht uns. Das gilt für den Musiker so gut wie für den Laien. Wenn wir sie uns am nächsten meinen, dann spricht sie uns an und wartet mit traurigen Augen, dass wir ihr antworten.”
[“Không phải ta hiểu âm nhạc, mà là âm nhạc hiểu ta. Điều này vừa đúng cho các nhạc sỹ, vừa đúng cho cả những người nghiệp dư. Mỗi khi ta cảm thấy âm nhạc gần gũi nhất thì nó sẽ gọi ta, và với ánh mắt buồn, sẽ chờ ta đáp trả.“]

(10) „Hoffnung ist nicht die festgehaltene Erinnerung sondern die Wiederkunft des Vergessenen.“
[„Hy vọng không phải là ký ức được níu giữ, mà là sự trở lại của những điều đã quên lãng.“]

Phần dịch tiếng Việt: THQ

Ode an die Freude / Tụng ca niềm vui

Aufführung / Biểu diễn: Đặng Ngọc Long (vocal & guitar) & Trương Hồng Quang (vocal)
Aufnahme und Abmischung / Kỹ thuật audio: Đặng Ngọc Long
Video: Đặng Ngọc Long & Trương Hồng Quang

LEBEN MIT CORONA – PODSCAST AUF VIETNAMESISCH AUS BERLIN
SỐNG CHUNG VỚI CORONA – PODCAST TIẾNG VIỆT TỪ BERLIN
SONDERFOLGE ZUM TẾT-FEST 2021
KỲ ĐẶC BIỆT TẾT TÂN SỬU 2021

Friedrich Hölderlin, Hälfte des Lebens / Nửa cuộc đời

Với muôn trái lê vàng, 
Và ngập tràn hoa hồng dại
Doi đất trĩu xuống mặt hồ
Đàn thiên nga kiều diễm 
Đắm say hôn  
Và vục đầu
Trong nước thiêng bình an.

Hỡi ôi, ta có thể tìm đâu
Khi đông về, hoa, tìm đâu
Ánh mặt trời
Và bóng đất?
Những bức tường đứng
Lặng câm và lạnh lẽo, trong gió
Tiếng cờ bay phật phật.

Bản gốc tiếng Đức:
HÄLFTE DES LEBENS

Mit gelben Birnen hänget
Und voll mit wilden Rosen
Das Land in den See,
Ihr holden Schwäne,
Und trunken von Küssen
Tunkt ihr das Haupt
Ins heilignüchterne Wasser. 

Weh mir, wo nehm’ ich, wenn
Es Winter ist, die Blumen, und wo
Den Sonnenschein,
Und Schatten der Erde?
Die Mauern stehn
Sprachlos und kalt, im Winde
Klirren die Fahnen.

Ảnh và bản dịch tiếng Việt: Trương Hồng Quang (Phiên bản 01.01.2021)

Đọc thêm các bản dịch trên trang Thi Viện

Stille Nacht, heilige Nacht / Đêm thiêng liêng

Musik / Nhạc: Franz Xaver Gruber
Text / Lời: Joseph Mohr
Neue vietnamesische Textfassung / Lời Việt mới: Đặng Ngọc Long & Trương Hồng Quang

Đặng Ngọc Long: vocal & guitar
Trương Hồng Quang: vocal
Tonaufnahme und Abmischung / Kỹ thuật audio: Đặng Ngọc Long
Video: Đặng Ngọc Long & Trương Hồng Quang

Berlin, 24.12.2020