“Und was verschwand wird mir zu Wirklichkeiten” – Dịch giả Quang Chiến đọc từ bản dịch vở bi kịch “Faust” của J. W. Goethe

“Những gì trước mắt ta, giờ lùi xa, xa mãi,
Những gì ta mất đi, nay sống lại trong lòng.”

Trích buổi đọc tác phẩm và giao lưu với dịch giả và nhà thơ Quang Chiến (1941-2021) tại trụ sở Tạp chí văn hoá – xã hội Đức-Việt “Đối Thoại”, Berlin ngày 19.08.1992

Phần II: Giới thiệu về dự án dịch vở bi kịch “Faust” của J. W. Goethe ra tiếng Việt và trích đọc từ bản thảo

[01:00] Giới thiệu dự án
[04:44] Đọc phần “Đề tặng”
[08:20] Đọc trích đoạn “Thật sung sướng thay cho ai đó còn hy vọng”
[10:30] Đọc trích đoạn “Băng giá đã tan rồi nơi con suối, dòng sông”
[12:35] Đọc trích đoạn “Gã chăn cừu sắm sanh đi nhảy múa”
[15:11] Chia sẻ về phương pháp dịch tác phẩm văn học
[17:45] Đọc trích đoạn “Lạy ông nhân đức, lạy bà hào hoa”
[18:33] Chia sẻ về các đồng nghiệp dịch giả văn học (đặc biệt về hai dịch giả Phạm Mạnh Hùng và Nguyễn Thụy Ứng)

Phần âm nhạc mở đầu và kết thúc: Trích đoạn từ Chương 1 “Faust” và Chương 2 “Gretchen” từ bản Faust-Sonata của nhạc sĩ Đặng Ngọc Long (do chính tác giả biểu diễn)

Ảnh chân dung dịch giả Quang Chiến của dịch giả Đoàn Tử Huyến (1952-2020)

SỐNG CHUNG VỚI CORONA – PODCAST VIỆT-ĐỨC TỪ BERLIN
KỲ 27, THỨ TƯ 08.12.2021
WWW.DRTRUONG.DE

🇩🇪 “Was ich besitze seh’ ich wie im weiten,
Und was verschwand wird mir zu Wirklichkeiten”

Aus der Lesung und Diskussion mit dem Literaturübersetzer und Dichter Quang Chiến (1941-2021) in der Redaktion der deutsch-vietnamesischen Kulturzeitschrift “Đối Thoại”, Berlin den 19.08.1992

Teil II: Vorstellung des Projektes zur vietnamesischen Nachdichtung der Tragödie “Faust” von J. W. Goethe und Lesung einiger Auszüge aus dem Manuskript

[01:00] Vorstellung des Projektes
[04:44] Lesung “Zueignung”
[08:20] Lesung “O glücklich, wer noch hoffen kann”
[10:30] Lesung “Vom Eise befreit sind Strom und Bächer”
[12:35] Lesung “Der Schäfer putzte sich zum Tanz”
[15:11] Über die Literaturübersetzung
[17:45] Lesung “Ihr guten Herren, ihr schönen Frauen”
[18:33] Über die Literaturübersetzer in Vietnam (insbesondere über Phạm Mạnh Hùng und Nguyễn Thụy Ứng)

Musikalischer Einstieg und Ausklang: Aus dem 1. Satz “Faust” und dem 2. Satz “Gretchen” der Faust-Sonata für die klassische Gitarre des Komponisten Đặng Ngọc Long (vom Komponisten sebst gespielt)

Porträtfoto von Quang Chiến: Đoàn Tử Huyến (1952-2020)

LEBEN MIT CORONA – DEUTSCH-VIETNAMESISCHER PODCAST AUS BERLIN
FOLGE 27, MITTWOCH 08.12.2021
WWW.DRTRUONG.DE

“Doch jene Wolke blühte nur Minuten…” – Tưởng niệm dịch giả – nhà thơ Quang Chiến (Ngô Quang Phục) 1941-2021

“Nhưng áng mây trắng trôi
Chỉ bồng bềnh giây lát…”

Tưởng niệm dịch giả – nhà thơ Quang Chiến (Ngô Quang Phục) 1941-2021

Trích buổi đọc tác phẩm và giao lưu với dịch giả và nhà thơ Quang Chiến tại trụ sở Tạp chí văn hoá – xã hội Đức-Việt “Đối Thoại”, Berlin ngày 19.08.1992

Phần I với các tác phẩm dịch thơ của Johannes R. Becher („Gần nhau”) – từ phút 02:00 -, Bertolt Brecht (“Hồi tưởng Marie A.”) – từ phút 03:35 -, Heinrich Heine (“Một cô ả”, “Chính bởi yêu em”, „Anh đã giấu người đời”, „Năm tháng sẽ qua đi”) – từ phút 25:00 – và hai trích đoạn từ tiểu thuyết “Nỗi đau của chàng Werther” – từ phút 11:10 -, của Johann Wolfgang Goethe

SỐNG CHUNG VỚI CORONA – PODCAST VIỆT-ĐỨC TỪ BERLIN
KỲ 26, THỨ SÁU 03.12.2021

“Doch jene Wolke blühte nur Minuten…”

🇩🇪 Aus der Lesung und Diskussion mit Quang Chiến in der Redaktion der deutsch-vietnamesischen Kulturzeitschrift “Đối Thoại”, Berlin den 19.08.1992

Teil I mit der Lesung der Nachdichtungen der Gedichte von Johannes R. Becher („In tiefster Nähe”), Bertolt Brecht (“Erinnerung an die Marie A.”), Heinrich Heine (“Ein Weib”, “Weil ich dich liebe”, “Wie schändlich du gehandelt“, “Die Jahre kommen und gehen”) und der zwei Auszüge aus dem Roman “Die Leiden des jungen Werther” von Johann Wolfgang Goethe

LEBEN MIT CORONA – DEUTSCH-VIETNAMESISCHER PODCAST AUS BERLIN
FOLGE 26, FREITAG 03.12.2021

Jürgen Habermas nói về Ludwig Wittgenstein, Martin Heidegger và Theodor W. Adorno

Thuyết trình tại seminar trực tuyến „Logicism“, Düsseldorf, Chủ nhật 31.10.2021
Vortrag im Rahmen der Online-Seminarreihe „Logicism“, Düsseldorf, Sonntag 31.10.2021   

“Tôi nghĩ có thể tóm tắt quan điểm của mình về triết học bằng cách nói rằng: Các triết gia thực ra chỉ nên làm thơ.”
[“Ich glaube, meine Stellung zur Philosophie dadurch zusammengefaßt zu haben, indem ich sage: Philosophen dürften eigentlich nur dichten.”]
Ludwig Wittgenstein (1889-1951)

„Giải phóng ngôn ngữ khỏi ngữ pháp, đưa nó về một cấu trúc bản chất khởi thủy hơn, đó là sứ mệnh của tư duy và thơ ca.“ 
 [„Die Befreiung der Sprache aus der Grammatik in ein ursprünglicheres Wesensgefüge ist dem Denken und Dichten aufbehalten“.]
Martin Heidegger (1889-1976)

“Không thể sống thật trong đời giả“
[„Es gibt kein richtiges Leben im falschen.“]
Theodor W. Adorno (1903-1969)

„Những thương tổn do lí trí gây nên, có chăng, chỉ có thể do lí trí hàn gắn được mà thôi.”
[„Die Wunden, die die Vernunft schlägt, können, wenn überhaupt, nur durch die Vernunft überwunden werden.“|
Jürgen Habermas (*1929)

„BUT TODAY IS A GIFT” – GESPRÄCH MIT HEINZ BLUMENTHAL, Düsseldorf 31.10.2021 (Teil I)

Eine Koproduktion im Rahmen des Projektes „ZEITZEUGEN“ der Rosa-Luxemburg-Stifftung. Wir bedanken uns herzlich bei Peeter Raane für die Initierung der Gesprächsreihe sowie für die große persönliche Unterstützung bei der Realisierung des Gespräches mit Heinz Blumenthal.

Sprache: Deutsch

Musikalischer Einstieg und Ausklang: Silvius Leopold Weiss (1687-1750), Suite in A Dur: Allemande, aus dem Album “Guitar Music Vol. 6 – Long Plays 2” von Dang Ngoc Long (Logiker-Musikverlag Berlin 2021). Wir danken dem Komponisten und Gitarristen Prof. Dang Ngoc Long für seine Erlaubnis, Auszüge aus seinem Album in unserem Podcast zu verwenden.  

„BUT TODAY IS A GIFT” – TRÒ CHUYỆN VỚI HEINZ BLUMENTHAL Düsseldorf 31.10.2021 (Phần I)

Chương trình hợp tác trong khuôn khổ dự án “NHÂN CHỨNG THỜI ĐẠI” của Quỹ Rosa-Luxemburg (CHLB Đức). Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Peeter Raane vì sáng kiến xây dựng chuỗi đối thoại này và sự hỗ trợ cá nhân to lớn trong việc thực hiện cuộc trò chuyện với Heinz Blumenthal. 

Ngôn ngữ: Tiếng Đức (sẽ có phần phụ đề tiếng Việt)

Âm nhạc: Silvius Leopold Weiss (1687-1750), Suite in A Dur: Allemande, trích từ Album “Guitar Music Vol. 6 – Long Plays 2” của Đặng Ngọc Long (Nhà xuất bản Logiker-Musikverlag Berlin 2021). Chúng tôi chân thành cảm ơn nhạc sỹ và nghệ sỹ Guitarre GS. Đặng Ngọc Long đã cho phép sử dụng một số trích đoạn từ Album của ông tại Podcast này. 

Video-Podcast „Leben mit Corona – Deutsch-vietnamesischer Podcast aus Berlin“  Video-Podcast “Sống chung với Corona – Podcast Việt-Đức từ Berlin”  
# 25, Freitag / Thứ sáu, 05.11.2021

Ludwig Wittgenstein, Các khảo sát triết học (Lời nói đầu)

Những suy nghĩ mà tôi công bố sau đây là kết quả của các khảo sát triết học mà tôi đã theo đuổi trong 16 năm qua. Chúng liên quan đến nhiều chủ đề: Khái niệm về ý nghĩa, sự thông hiểu, câu, logic, nền tảng của toán học, các trạng thái ý thức và những vấn đề khác. Tôi viết ra tất cả những suy nghĩ này dưới dạng các ghi chú, những đoạn văn ngắn. Đôi khi với những chuỗi câu dài, về cùng một chủ đề, đôi khi chúng được chuyển mạch một cách chóng vánh từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác. — Ban đầu, ý định của tôi là tổng hợp tất cả những nội dung này trong một cuốn sách, dưới một hình thức mà tôi đã có các hình dung khác nhau vào những thời điểm khác nhau. Điều cốt yếu đối với tôi ở đây là các ý tưởng cần được lần lượt triển khai từ đối tượng này sang đối tượng khác, theo một trình tự tự nhiên và không bị gián đoạn. 

Sau một số thể nghiệm bất thành nhằm gắn kết các kết quả của mình thành một tổng thể như vậy, tôi nhận ra cách làm này sẽ không bao giờ thành công. Những gì tốt nhất mà tôi có thể viết ra sẽ luôn chỉ là những ghi chú triết học, các suy nghĩ của tôi sẽ nhanh chóng bị tê liệt một khi tôi tìm cách gò ép chúng theo một hướng, ngược lại với khuynh hướng tự nhiên của chúng. — Và điều này, tất nhiên, liên quan đến bản chất của việc khảo sát. Nó bắt buộc chúng ta phải bao quát một lĩnh vực tư tưởng rộng lớn, với những liên hệ đan chéo nhau và xuyên suốt mọi hướng. — Các ghi chú triết học trong cuốn sách này, có thể nói, là một tập hợp của nhiều kí họa phong cảnh, nảy sinh trên những chặng hành trình dài và đầy quanh co. 

Các điểm giống nhau, hoặc gần giống nhau, thường xuyên được tiếp cận từ nhiều hướng, những bản vẽ mới liên tục được phác thảo. Rất nhiều trong số đó bị sai lệch, hoặc thiếu đặc trưng, với tất cả khiếm khuyết của một người vẽ non kém. Và sau khi chúng bị loại bỏ, những phác họa dang dở còn lại phải được sắp xếp, thường là phải được cắt xén, để có thể cung cấp cho người xem một bức tranh toàn cảnh. — Vì vậy, cuốn sách này thực sự chỉ là một quyển sổ album. 

Cho đến gần đây tôi đã thực sự từ bỏ ý định xuất bản tác phẩm của mình khi còn sống. Tuy nhiên, có lúc ý định này lại trỗi dậy, chủ yếu là vì tôi đã buộc nhận thấy rằng những kết quả mà tôi đã chia sẻ ở các bài giảng, bản thảo và các cuộc thảo luận thường bị hiểu sai, ít nhiều bị biến thành nông cạn hoặc bị xuyên tạc. Qua đó có một thứ xúc cảm phù phiếm trong tôi đã bị khơi dậy, và tôi đã phải nhọc lòng để có thể kìm hãm nó.

Tuy nhiên bốn năm trước tôi có dịp đọc lại cuốn sách đầu tay của mình (“Luận văn lô gích – triết học ”) và giải thích các ý tưởng của nó. Và lúc đó tôi bỗng nghĩ rằng nên công bố những suy nghĩ cũ và những suy nghĩ mới cùng nhau, rằng những ý tưởng mới chỉ có thể được soi rọi một cách thỏa đáng thông qua sự tương phản và dựa trên nền tảng của lối suy nghĩ trước đây của tôi. 

Kể từ khi bắt đầu trở lại với triết học cách đây 16 năm, tôi đã phải nhận ra những sai sót nghiêm trọng trong những gì tôi đã viết ở cuốn sách đầu tiên đó. Những ý kiến phê phán mà tôi nhận được từ Frank Ramsey trong vô số buổi trò chuyện vào hai năm cuối đời của ông về những điều này đã giúp tôi hiểu ra những sai sót của mình, ở một mức độ mà tôi không thể nào đánh giá hết -. Và vượt lên cả sự phê phán luôn mãnh liệt và vững chắc đó, tôi còn phải hàm ơn một thầy giáo tại trường đại học này, ông P. Sraffa, người từ nhiều năm đã liên tục chỉ trích các ý tưởng của tôi. Đây chính là động lực cho những ý tưởng quan trọng nhất của cuốn sách. 

Có nhiều hơn là một lý do khiến cho những gì mà tôi công bố ở đây sẽ có những điểm tương đồng với những điều mà các tác giả khác viết ngày nay. — Nếu những ghi chú của tôi không mang đủ dấu ấn của bản thân, tôi cũng sẽ không tiếp tục đòi hỏi coi đây là sở hữu của mình. 

Tôi trao lại cuốn sách cho công luận với chút lòng băn khoăn. Khả năng công trình khiêm tốn này trong thời kỳ đen tối hiện tại có thể soi sáng một vài bộ óc nào đó không phải là không có; nhưng, dĩ nhiên, nó cũng gần như bất khả.

Với công trình này, tôi không muốn giải thoát cho người khác khỏi những rắc rối của công việc tư duy. Mà là, trong chừng mực có thể được, kích thích họ có những suy nghĩ độc lập. 

Tôi thực lòng mong mỏi viết được một cuốn sách hay. Kết quả không được như ý; nhưng thời gian để tôi có thể tiếp tục hoàn thiện nó không còn nữa.

Cambridge, tháng Giêng 1945. 

Bản dịch tiếng Việt từ nguyên tác tiếng Đức của 
Trương Hồng Quang (02.09.2021)

Bản gốc tiếng Đức

LUDWIG WITTGENSTEIN, PHILOSOPHISCHE UNTERSUCHUNGEN
VORWORT (1945)

In dem Folgenden veröffentliche ich Gedanken, den Niederschlag philosophischer Untersuchungen, die mich in den letzten 16 Jahren beschäftigt haben. Sie betreffen viele Gegenstände: Den Begriff der Bedeutung, des Verstehens, des Satzes, der Logik, die Grundlagen der Mathematik, die Bewußtseinszustände und Anderes. Ich habe diese Gedanken alle als Bemerkungen, kurze Absätze, niedergeschrieben. Manchmal in längeren Ketten, über den gleichen Gegenstand, manchmal in raschem Wechsel von einem Gebiet zum andern überspringend. — Meine Absicht war es von Anfang, alles dies einmal in einem Buche zusammenzufassen, von dessen Form ich mir zu verschiedenen Zeiten verschiedene Vorstellungen machte. Wesentlich aber schien es mir, daß darin die Gedanken von einem Gegenstand zum andern in einer natürlichen und lückenlosen Folge fortschreiten sollten.

Nach manchen mißglückten Versuchen, meine Ergebnisse zu einem solchen Ganzen zusammenzuschweißen, sah ich ein, daß mir dies nie gelingen würde. Daß das Beste, was ich schreiben konnte, immer nur philosophische Bemerkungen bleiben würden; daß meine Gedanken bald erlahmten, wenn ich versuchte, sie, gegen ihre natürliche Neigung, in einerRichtung weiterzuzwingen. — Und dies hing freilich mit der Natur der Untersuchung selbst zusammen. Sie nämlich zwingt uns, ein weites Gedankengebiet, kreuz und quer, nach allen Richtungen hin zu durchreisen. — Die philosophischen Bemerkungen dieses Buches sind gleichsam eine Menge von Landschaftskizzen, die auf diesen langen und verwickelten Fahrten entstanden sind. 

Die gleichen Punkte, oder beinahe die gleichen, wurden stets von neuem von verschiedenen Richtungen her berührt und immer neue Bilder ent- worfen. Eine Unzahl dieser war verzeichnet, oder uncharakteristisch, mit allen Mängeln eines schwachen Zeichners behaftet. Und wenn man diese ausschied, blieb eine Anzahl halbwegser übrig, die nun so angeordnet, oftmals beschnitten, werden mußten, daß sie dem Betrachter ein Bild der Landschaft geben konnten. — So ist also dieses Buch eigentlich nur ein Album. 

Ich hatte bis vor Kurzem den Gedanken an eine Veröffentlichung meiner Arbeit bei meinen Lebzeiten eigentlich aufgegeben. Er wurde allerdings von Zeit zu Zeit rege gemacht, und zwar hauptsächlich dadurch, daß ich erfahren mußte, daß meine Ergebnisse, die ich in Vorlesungen, Skripten und Diskussionen weitergegeben hatte, vielfach mißverstanden, mehr oder weniger verwässert oder verstümmelt im Umlauf waren. Hierdurch wurde meine Eitelkeit aufgestachelt und ich hatte Mühe, sie zu beruhigen. 

Vor vier Jahren aber hatte ich Veranlassung, mein erstes Buch (die “Logisch-Philosophische Abhandlung”) wieder zu lesen und seine Gedanken zu erklären. Da schien es mir plötzlich, daß ich jene alten Gedanken und die neuen zusammen veröffentlichen sollte: daß diese nur durch den Gegensatz und auf dem Hintergrund meiner ältern Denkweise ihre rechte Beleuchtung erhalten könnten. 

Seit ich nämlich vor 16 Jahren mich wieder mit Philosophie zu beschäftigen anfing, mußte ich schwere Irrtümer in dem erkennen, was ich in jenem ersten Buche niedergelegt hatte. Diese Irrtümer einzusehen, hat mir — in einem Maße, das ich kaum selbst zu beurteilen vermag — die Kritik geholfen, die meine Ideen durch Frank Ramsey erfahren haben, — mit welchem ich sie während der zwei letzten Jahre seines Lebens in zahllosen Gesprächen erörtert habe. Mehr noch als dieser — stets kraftvollen und sichern — Kritik verdanke ich derjenigen, die ein Lehrer dieser Universität, Herr P. Sraffa durch viele Jahre unablässig an meinen Gedanken geübt hat. Diesem Ansporn verdanke ich die folgereichsten der Ideen dieser Schrift. 

Aus mehr als einem Grunde wird, was ich hier veröffentliche, sich mit dem berühren, was Andre heute schreiben. — Tragen meine Bemerkungen keinen Stempel an sich, der sie als die meinen kennzeichnet, so will ich sie auch weiter nicht als mein Eigentum beanspruchen. 

Ich übergebe sie mit zweifelhaften Gefühlen der Öffentlichkeit. Daß es dieser Arbeit in ihrer Dürftigkeit und der Finsternis dieser Zeit beschieden sein sollte, Licht in ein oder das andere Gehirn zu werfen, ist nicht unmöglich; aber freilich nicht wahrscheinlich. 

Ich möchte nicht mit meiner Schrift Andern das Denken ersparen. Sondern, wenn es möglich wäre, jemand zu eigenen Gedanken anregen.

Ich hätte gerne ein gutes Buch hervorgebracht. Es ist nicht so ausgefallen; aber die Zeit ist vorbei, in der es von mir verbessert werden könnte.

Cambridge, im Januar 1945. 

Isabelle Müller, To love mankind as it is

Gedanken zum Gespräch „To love the world as it is (II)“ mit dem deutsch-vietnamesischen Unternehmer Vu Minh Anh, Gründer und Geschäftsführer der Reisefirma „Terraverde Travel“, aus der Podcast-Reihe „Leben mit Corona – deutsch-vietnamesischer Podcast aus Berlin“, Folge 24, Sonntag 18.07.1959 

Die Autorin Isabelle Müller und der Gastgeber des Podcast bei der gemeinsamen
zweisprachigen Lesung aus dem Buch „Loan“ in Berlin am 28. Juli 2019
(Screenshot aus dem Video von Truong Tran Phuc)

Vorbemerkung: 

Isabelle Müller ist die Tochter einer vietnamesischen Mutter und eines französischen Vaters, der Soldat der französischen Kolonialarmee in Indochina war. Sie wurde 1964 in Tours (Frankreich) als Isabelle Gaucher geboren und wuchs dort in ärmlichen Verhältnissen auf. Seit 1985 arbeitete sie in Deutschland als Dolmetscherin und Übersetzerin für Deutsch-Französisch, Deutsch-Russisch und Deutsch-Englisch. In 2009 erschien ihre Biographie „Phönixtochter – Die Hoffnung war mein Weg“beim Verlag Krüger (S. Fischer). Mit ihrem nächstem Buch, der mütterlichen Biographie „Loan – Aus dem Leben eines Phönix“ nahm Isabelle Müller im Juli 2015 am von Amazon ausgerichteten Kindlestoryteller 2015 Wettbewerb teil und erreichte das Finale (5 Finalisten). Im März 2018 erschien die vietnamesische Fassung des Buchs „Loan – Aus dem Leben eines Phönix“ in Vietnam beim Verlag TRẺ Publishing House (3. Auflage 2019). Im Mai 2016 gründete die Autorin die LOAN Stiftung, die Bildungsprojekte zugunsten Kinder ethnischer Minderheiten in den ärmlichsten Bergregionen im Norden Vietnams realisiert. 

Die folgenden Gedanken teilte Isabelle Müller als Facebook-Kommentare zu der Podcast-Folge „To love the world as it is (II)“, die hier mit dem Einverständnis der Autorin als ein zusammenhängender Text veröffentlicht werden. Wir danken Frau Müller von ganzem Herzen für ihre engagierten und ausführlichen Stellungsnahmen und hoffen, diese sind auch für die Zuhörer:innen des Gespräches und Leser:innen dieses Textes genauso inspirierend, wie für die Macher des Podcast „Leben mit Corona – deutsch-vietnamesischer Podcast aus Berlin“ selbst.        

I.

Lieber Trương Hồng Quang,

nun melde ich mich wieder, wie versprochen, mit meinem ausführlicheren Kommentar (in 8 Teilen gepostet wegen der Länge) zu dieser Podcast Episode. Zuerst meinen tiefen Dank an Dich und Herrn Vu Minh Anh für den interessanten Austausch, der nicht nur wichtige gesellschaftliche und ethische Fragen aufwirft, sondern auch richtig zur Selbstreflexion anregt. An der Länge meines Beitrages werdet ihr merken, dass es viel zu sagen gibt. Daher auch meinen Dank für deine Einladung, meine Meinung als Eurasierin dazu zu äußern. Ich werde nicht auf alle Themen eingehen können, aufgrund ihrer großen Anzahl. Gerne bei einer anderen Gelegenheit.

Die geschickte Einführung der maßgeschneiderten Reisemöglichkeiten des Reiseunternehmens von Herrn Vu Minh Anh bringt uns erst sanft zu den Themen Kultur, Geschichte, Pandemie über Trauma Bewältigung bis hin zur Identitätssuche. Ein gut gewählter Gast, meine ich, um einen Einblick in die Gefühlswelt eines jungen, erfolgreichen „Viet-Deutschen“ (noch mit Bindestrich geschrieben) in Vietnam zu bekommen.

Der kontroverse Blick über die erwähnten Themen kam hauptsächlich hervor, weil ihr beide verschiedenen Generationen angehört. Als in Deutschland lebende Eurasierin französisch-vietnamesischer Herkunft, fand ich mich dennoch in euch beiden wieder. Einmal durch mein Alter (57 Jahre), so auch durch mein Dasein als Mensch vietnamesischer Abstammung im Ausland, bzw. in einer neuen Heimat. Eure Fragen habe ich mir im Laufe meines Lebens bestimmt mindestens schon einmal gestellt – bis auf die Pandemie bezogenen Fragen. Einige davon habe ich dennoch anders beantwortet, als ihr. Doch eins nach dem anderen.

Es sind wichtige Begriffe in die Diskussion gefallen: Polarisieren, Politik, Gesellschaft, solidarische Grundhaltung, Vertrauen, alte Tugenden, Konsens, verstörende Bilder, spontane Hilfsaktionen, Nord-Süd-Konflikt, mentale Trennung, Kommunikation, Diaspora, Widerspruch, Grenzgänger, Krieg, etc… Wahnsinn, finde ich, was u. a. eine Pandemie an Emotionen hervorrufen kann. Es bestätigt klar: Eine Krise offenbart oft das wahre Gesicht eines Menschen, bzw. einer Gesellschaft.

Auf die Frage, ob man die Erfolgsstory aus den Medien („Asien, bzw. Vietnam hat die Corona Lage besser im Griff“) revidieren sollte, da inzwischen Existenzen in Vietnam durch Lockdowns möglicherweise bedroht werden, wird so schnell keine Antwort zu finden sein. Es wird am Ende nicht nur Ansichtssache sein (da jeder auch frei ist, sich seine eigene Meinung zu bilden). Es wird von der jeweiligen Situation und dem jeweiligen Erfahrungsbericht jedes Einzelnen abhängen. Zudem verändert sich noch die Lage fast täglich. 

Eins steht fest: Gleich nach dem Ausbruch der Pandemie hat Vietnam große Disziplin und Stärke bewiesen (wie Herr Vu Minh Anh sagte, „weil asiatische Länder bereits Erfahrung mit Pandemien besitzen“). Es ist aber zu früh feststellen zu wollen, welche Strategie und Politik welche Früchte getragen hat oder nicht. Das wird sich erst später zeigen. Daher stimmt die Aussage von Herrn Vu Minh Anh insofern, dass sich Entscheidungen mit neuen Parametern verändern können, wozu ich ergänze: „und daraufhin vielleicht auch die Meinungen.“

In der Feststellung von Herrn Vu Minh Anh, dass das vietnamesische Volk resilient, zäh und gelassen sei – zu diesen Eigenschaften kommen meinerseits die Adjektive fleißig und kreativ – findet sich doch deutlich ein Stück vietnamesische Identität wieder, die für ihn im späteren Verlauf des Interviews anscheinend – ich zitiere – „keine Rolle mehr spielt“. Entweder ist diese Identität bei ihm ganz tief vergraben und kommt absichtlich nicht zum Vorschein oder er schafft es tatsächlich, sich derart abzunabeln, dass er meint, keine Identität zu haben.

II.

Im weiteren Verlauf des Interviews nimmt Herr Vu Minh Anh – offenbar so bewusst, wie er kann – sowohl die positiven, Mut machenden Erfolgsgeschichten als auch die schlechten Nachrichten (Zwangsprostitution, etc…) über Viet-Deutsche nicht persönlich. Prinzipiell denke ich, ist es grundsätzlich eine gesunde Einstellung, um seine eigene positive, geistige, gesunde Balance zu erhalten. Allerdings kann an dieser Stelle Entfremdung entstehen. Fühlt man sich von einem Thema nicht angesprochen, kann das hinzuführen, dass man wegschaut und wichtige, gesellschaftliche Themen ignoriert. Und gerade hier geht womöglich die Möglichkeit, einen Bezug zur Identität zu finden, verloren.

Wir Menschen entwickeln uns anhand der Informationen, die wir bekommen. Sie helfen uns, das Bild unserer vermeintlichen Realität zu verfeinern. Dann entscheiden wir, ob wir uns mit diesem Bild identifizieren oder nicht. Identitätssuche ist für mich wichtig. Sie bedeutet Zugehörigkeitssuche und ist ein Ruf nach Liebe. Der Mensch durstet danach. An diesem Punkt möchte ich betonen, dass ich überzeugt bin, dass jeder Mensch und jedes Wesen eine Identität besitzen – ob sie es wollen oder nicht -, um sich erst an anderen zu messen (ohne anmaßend zu sein) und um schließlich die eigene Existenz besser wahrzunehmen. Diese philosophische Ebene müsste hier etwas vertieft werden, indem man „Identität“ klarer definiert. Und selbst die Definition von Identität wird sich kontinuierlich entwickeln, da unsere Welt stets in Bewegung ist.

Die Erwähnung von „verstörenden Bildern“ während der Pandemie (Hamsterkäufe, Flucht vor Behörden, etc…) bestätigt meine o.g. Aussage, dass eine Krise (hier wird z.B. COVID mit einem Kriegszustand verglichen) das wahre Gesicht eines Menschen, bzw. einer Gesellschaft offenbart. Weiterhin rutscht man in dem Interview unwillkürlich in das Thema „alte Wunden“ – damit ist der vietnamesische Nord-Süd Konflikt gemeint. Die große Rolle und Wichtigkeit der Kommunikation zwischen den Generationen wird im Interview unterstrichen, was auch absolut richtig ist. Auf eine konstruktive, sachliche und vor allem ehrliche Kommunikation sollte der Mensch stets achten. Richtige Kommunikation sollte alle vorhandenen Ansichtspunkte der jeweiligen Menschen auch wahrnehmen, zulassen, und nicht nur einseitig sein. Der Wille zur Kommunikation sollte auch bewusst geweckt und gepflegt werden, und dies, auf einer ehrlichen Ebene, wenn möglich ohne persönliche Interessen, zum Wohle der Gesellschaft. Denn nur glückliche Einzelpersonen können auch eine glückliche Gesellschaft bilden. Theoretisch. Hier fallen mir Worte wie „verstehen“, „lernen“ oder „verzeihen“: Jeder Mensch weiß besser als jeder andere, was gut für einen ist. Egal, wie und wofür man sich entscheidet, das zu tun, setzt der Wille voraus und bedeutet Arbeit. Ziel wären u. a., dass die Geschichte sich nicht wiederholt, indem man aus der Geschichte erfährt, aus der Vergangenheit lernt und Fehler zu vermeiden.

Zudem wäre es wichtig zu lernen, die Aussagen eines Einzelnen zu hinterfragen und richtig zu interpretieren, um das vielleicht Unbewusste, Unterschwellige an die Oberfläche zu tragen. Auch das ist Arbeit. Das Reiseunternehmen von Herrn Vu Minh Anh bietet sicherlich gute Möglichkeiten an, sich mit tiefgründigen, geschichtlichen, kulturellen, gesellschaftlichen und schließlich menschlichen Themen auseinanderzusetzen.

Alte Wunden (z.B. Nord-Süd-Konflikt) können nur heilen, wenn man die Bereitschaft, den Willen dazu hat. Fakte sprechen für sich und werden es immer tun. Der Mensch ist jedoch lernfähig, trotz seiner Emotionalität. Wir sind äußerlich und innerlich nicht alle gleich (Narr ist, wer das behauptet). Nur Grundeigenschaften ähneln sich und jeder Mensch ist ein Unikat. Wir reagieren und denken anders. Doch sollten wir stets den gesamten Kontext eines Faktes erfragen, um unseren Blickwinkel dadurch zu erweitern und um besser zu verstehen. Sich ein eigenes Bild von etwas machen zu dürfen, ist eine große Freiheit und das sollte uns allen bewusst sein. Reisen durch Vietnam bieten genau das an, da sie eine bereits vorhandene Affinität zu diesem Land sicher verfeinern.

III.

Herr Vu Minh Anh wurde angesprochen auf die Hoffnung auf Beendung des Nord-Süd-Konfliktes. “Das Problem löst sich von selbst aufgrund der Demographie. Wir gehören zur Generation, die im Ausland aufwächst, die gleichzeitig eine Bindung zu Vietnam hat. Es ist ein anderes Denken. Für die Jüngeren ist diese Frage über Nord und Süd völlig fremd.“ Die Wahrheit, würde ich sagen, liegt in der Mitte. 

Einerseits stimmt es (dass es ein anderes Denken ist): Nicht jeder Jugendliche vietnamesischer Abstammung möchte sich mit einer teilweise schmerzhaften Vergangenheit beschäftigen. Die Welt um sie ist doch so friedlich und schön, wozu denn? Die Frage, warum es friedlich und schön um sie ist, mag sich mancher leider nicht oft gestellt haben. Die Antwort würde lauten: Weil ihre Eltern und Großeltern sich dafür geopfert haben. 

Andererseits ist diese Frage bei vielen dieser jungen Menschen sehr präsent, Gott sei Dank. Auch wenn sie es nicht offen zum Ausdruck bringen, bedeutet es lange nicht, dass sie das Thema ignorieren. Sie behalten es einfach lieber für sich. Gerade diese junge Generation durstet nach Aufklärung, um die Denk- und Verhaltensweise der Älteren besser zu begreifen. Ich habe das festgestellt, als die Biographie über meine geliebte Mutter „Loan – Aus dem Leben eines Phönix“ in Deutschland und später in Vietnam erschienen ist. Das Buch wurde begeistert empfangen, weil es einige Antworten gab, auch einen anderen Blickwinkel auf bestimmte Dinge. Es schließt sozusagen eine Lücke in der Geschichte Vietnams und bringt mehr Verständnis, mehr Menschlichkeit in den Familien und in der Gesellschaft. Zeitzeugen gibt es wenige und heutzutage besteht die Möglichkeit, z. B. durch Reisen mit ihnen in Berührung zu kommen und sich auszutauschen – sei es persönlich oder über ein Buch. 

Diese Kinder der 2. Generation stellen Fragen und ihre Fragen werden beantwortet, was gut ist. Ihr Interesse an der Landesgeschichte ist also durchaus vorhanden, kann aber nicht bei dem anderen Teil dieser Generation erzwungen werden – höchstens angeregt. 

Und egal ob die jüngere Generation sich für die Geschichte ihres Herkunftslandes interessiert oder nicht: Unvermeidlich wird das Thema irgendwann zur Geschichte gehören. Eine Buchseite wird umgeblättert, um Raum für eine neue Geschichte zu schaffen. Wie die neue Geschichte allerdings aussehen wird, wird stark davon abhängen, wie die Vergangenheit ausgesehen hat. Vergangenheit gehört für mich deshalb absolut zur Kultur, daher bleibt es empfehlenswert, die Kultur und altes Wissen zu pflegen und weiterzugeben an die, die hören wollen und dafür offen sind.

Für mich ist es also wichtig, die Geschichte (m)einer Länder immer besser kennenzulernen, (welch ein Glück ich habe, denn ich habe mehrere Heimatländer!) daraus zu lernen, um die nächste Generation (meine Kinder z. B. oder meine Freunde) auch darüber zu informieren, aber nur wenn sie es wünschen. Erziehung vermittelt Kultur und Werte. So erfährt man auch von Tugenden wie Güte, Anstand und Empathie. Man sollte aber gleichermaßen über Laster sprechen und aufklären, wo diese z. B. im Leben zu finden sind (ohne zu predigen). Als Elternteil sollte man in der Lage sein, über seinen eigenen Schatten zu springen und das Kind selbst entscheiden lassen, in welche Richtung es gehen möchte. Eltern sind mit der Erziehung nur Wegweiser. Die Richtung sollen die Kinder selbst wählen und den Weg selbst gehen.

Ich persönlich habe begriffen, dass Konflikte und Kriege zuerst im Kopf entstanden sind, meistens aus Machtgier. Daher sollte unbedingt Frieden in unseren Köpfen entstehen, damit Frieden auch zur globalen Realität wird. Diese Vision für unsere nachhaltige Zukunft sollten alle Generationen mit vereinten Kräften hervorrufen.

IV.

Die o.g. Punkte (sehr untypisches, vietnamesisches Verhalten in der Krise / Erinnerung an den alten Nord-Süd-Konflikt) zeigen unterschwellig die bestehende Angst vor dem Verlust der alten, vietnamesischen Tugenden. Hier möchte ich kurz einwenden, dass viele der gemeinten Tugenden nicht nur in Vietnam zu finden sind/waren, sondern in allen Ländern dieser Welt. Tugenden dieser Art – die zur Lebenseinstellung oder Lebensphilosophie werden sollten (jeder kann natürlich für sich entscheiden) – finden sich zwar in manchen Ländern mehr als in andere, doch sind sie irdisch und keineswegs landesspezifisch. Insofern ist diese Angst sicherlich nicht nur vietnamesisch, sondern global: Wo gehen unsere edlen Werte hin und sind sie noch zu retten, und wenn ja, wie? 

Die Frage an Herrn Vu Minh Anh „Kann man sich als Rückkehrer noch gut wieder im Ursprungsland integrieren?“ wurde teilweise beantwortet. Ich persönlich finde es möglich, wenn der Wille dazu stark genug ist und wenn man im Ursprungsland mindestens genauso glücklich ist, wie im „Gastland“. Es kommt auf die persönlichen Ziele an: Ist man noch jung genug und meint, man hat genug „anderes Wissen“ bekommen und möchte es im Ursprungsland mit seinen Mitmenschen teilen, damit die Gesellschaft davon profitiert, dürfte es funktionieren. Ist man älter – nachdem man Jahrzehnte im „Gastland“ / ich bezeichne es lieber als „zweite Heimat“ – verbracht hat, sehe ich es als sehr schwierig, sich wieder zu integrieren und sich dabei wohl zu fühlen. Ein Mensch filtriert bewusst oder unbewusst immer „das Beste“ aus dem Leben heraus, um glücklich zu sein (Glück ist schließlich das Ziel jeder Person auf Erden; ich hatte damals als junge Studentin eine Arbeit über „Glück“ verfasst, erinnere ich mich). Wenn Rückkehr im Ursprungsland, dann nur mit einer großen Sammlung an neu erworbenen Eigenschaften aus der 2. Heimat im Gepäck. Am Ende kann diese „Mischkombination aus verschiedenen Kulturen“ gut bestehen.

An dieser Stelle eine quere Frage von mir: Mit welchen Absichten tut man das wirklich (sich wieder im Ursprungsland wieder integrieren)? Aus reinem Pragmatismus oder aus Nächstenliebe? (wohl ein anderes Thema).

Natürlich ist es von Vorteil, neu erworbene Kenntnisse und Verbesserungen (soweit es welche sind) einzuführen, um die Lebensqualität seiner Mitmenschen im Heimatland zu verbessern (Förderung der Wirtschaft, etc…). Ich hätte dabei gerne unterstrichen, wie wichtig Ethik dabei ist, um eine nachhaltige, positive Entwicklung des Heimatlandes zu erzielen – dies, mit immer großem Respekt zur vorhandenen Kultur. Diese sollte stets wie eine kostbare Perle beschützt werden. Denn die Zerstörung einer Kultur involviert einen Untergang. Wesentlich ist nicht der Untergang selbst, sondern die Frage, ob bei diesem Untergang die WERTE, die hoffentlich vermittelt wurden, dabei verschwunden sind oder ob sie weiterhin bestehen. Dass Kulturen Höhepunkte und Niedergänge haben, ist und bleibt ein Fakt. Es wird durch die Geschichte belegt. Früher oder später, sobald ein Land satt und fett wird, kommt der Untergang. Die Frage ist nur, bei sich schnell entwickelnden Ländern, wie schnell sie satt und fett werden und ob gute Werte (alte Tugenden) sie vor diesem Niedergang retten können. Auch ein interessantes Thema.

V.

Die Aussage von Herrn Vu Minh Anh, Vietnam sei ein offenes Land, das Chancen für alle bietet, ist richtig. Hier möchte ich betonen, dass alle möglichen Aspekte einer Entwicklung beleuchtet werden sollten, bevor man ein Land gänzlich öffnet. Kreativität ist wunderbar (das zeigen die Vietnamesen zum Beispiel mit der großen Anzahl ihrer Startups im Land), aber die “Maschinerie” in Gang zu halten, könnte unwillkürlich weitere Probleme bringen, denen die junge Generation vor Ort nicht unbedingt gewachsen ist. Die jetzige, „wissenshungrige“, vietnamesische Generation hat ein Großteil von Entwicklungen nicht selbst erlebt und steht nur vor den Ergebnissen dieser Entwicklungen. Ein Beispiel: Ein Kind aus dem abgelegenen, hohen Norden Vietnams hat ein Handy, ist vernetzt und sieht Inhalte “einer anderen Welt”, die ihn „verzaubert“, ihm besser zu sein erscheint, als die seine. Er will dorthin und so sein, wie die Person, die ihm gezeigt wird, und das am besten jetzt. Teilweise auf Kosten der Nachhaltigkeit. Ein gefährliches Vorhaben durch ein verzerrtes Bild der Realität. Diese Kinder sind deshalb schon zum Scheitern verurteilt. Auch ein anderes Thema, das weiter ergründet werden könnte.

All diese o.g. Punkte sind dennoch meines Erachtens nur Randerscheinungen eines viel wichtigeren Themas: BILDUNG, verbunden mit weiteren Themen wie Kommunikation und Aufklärung. Kann die Jugend in der Entwicklungsphase eines Landes mitgenommen werden? Kann die (nicht nur vietnamesische) Jugend mit dem sehr schnellen Fortschritt mithalten? Dreht sich die Welt zu schnell? Entgleist uns die Jugend? Dieser Gedanke impliziert auch die Rolle der Medien und der Information, die selbst auch Desinformation oder Konditionierung sein kann (indem der „Eine Richtung Blick“ gepflegt wird). Selbst Geschichtsbücher, die von Menschen verfasst wurden, können Fehler enthalten, Bilder verzerren und in die Irre führen. Deshalb sollte man möglichst viele Blickwinkel und den Kontext einer Sache betrachten und versuchen, sich ein eigenes Bild zu machen. 

Durch einen wirklich gesunden Menschenverstand, sollte es zudem zu schaffen sein, eine gesunde Welt zu erschaffen. Idealismus von mir? Mag sein.

Ein deutscher Kirchenmann sagte mir einst: „Ich armes Schaf, bräuchte dringend geistige Nahrung“, bloß weil ich ihm meinen Grundsatz im Leben erklärte: Das Gute vom Bösen zu unterscheiden. Bemüht man sich, dies im Leben zu tun, erreicht man (in der Regel) diesen gesunden Menschenverstand. Vertrauen müsste entsprechend vorgelebt und könnte teilweise gewonnen werden, indem man den Geist fördert. Misstrauen ist dabei durchaus legitim (aus den vergangenen Erfahrungen heraus), doch ein Ziel sollte sein, die richtige, gesunde Balance zu finden.

Im Interview hast du, lieber Quang, erwähnt, dass du mit 17 Jahren nach Deutschland gekommen bist und deine Persönlichkeit quasi „fertig entwickelt“ war. Ich meine, dass nur die Basis deiner Persönlichkeit festgelegt war, da sich diese aufgrund der Erfahrungen, des Austauschs, der menschlichen Neugier stetig entwickelt hat (und noch tut). Du siehst es als Problem, dass die 2. Generation sich nicht vietnamesisch fühlt und sich entsprechend verhält (waschechte Vietnamesen sind immer sehr nostalgisch…:)) Herr Vu Minh Anh fügt sogar hinzu, dass diese neue Generation „die neue, deutsche Generation“ sei. 

Ich hätte hier, aufgrund meiner eigenen Herkunft, eine Anregung. Warum sollte man aus diesem Fakt (dass sich die neue Generation nicht vietnamesisch fühlt) ein Problem machen? Dies führt u. a. zur tiefen Zerrissenheit der Generation Nr. 1 und gibt zudem der Generation Nr. 2 ein schlechtes Gewissen und das Gefühl, den Erwartungen nicht gerecht zu werden. Heißt es nicht: „Erwarte nichts, so wirst du nicht enttäuscht“? Man kann nicht erwarten, nachdem man eine Pflanze umgesetzt hat, dass sie genauso wird wie im mütterlichen Boden. Das Klima, die Eigenschaften, das Umfeld beeinflussen die Entwicklung der Pflanze. Der Dünger (die Vermittlung der Werte) wird helfen mögen, doch das Ergebnis wird eigen sein – denn jeder Mensch ist eigen.

VI.

Ich glaube, dass die vorhandene Sorge (dass die 2. Generation sich nicht vietnamesisch fühlt) durchaus berechtigt ist, aber sie sollte nicht speziell auf Vietnam (oder ein anderes Herkunftsland) bezogen sein. Die wahre Sorge sehe ich mehr bei den Eltern: Sie haben Leid erfahren und mussten sich, ob sie es wollten oder nicht, mit der schmerzhaften Geschichte Vietnams auseinandersetzen. Sie wurden mit den Auswirkungen von furchtbaren Kriegen konfrontiert und sehnten sich nach einer besseren Zukunft. Später haben sie Kinder bekommen und versucht, dieser 2. Generation einen Bezug (nicht nur durch die Hautfarbe oder durch ein anderes Aussehen) zu ihren Erfahrungen zu geben. Indem sie das getan haben und immer wieder tun (das Problem ist ja immer noch da), reflektieren/reproduzieren sie ihre Ängste, ihre vergangenen Erfahrungen und ganzen Hoffnungen auf die Kinder. 

Durch Erzählungen über das Herkunftsland kann man einen Bezug zum Herkunftsland zwar schaffen, doch wird es ein anderer sein. Es muss auch ein anderer sein, denn diese Kinder können das Ausmaß der Erfahrungen nicht so wie sie fühlen. Sie können es nur spüren. Und unbewusst möchten sie das Leid ihrer Eltern nicht wiederholen, indem sie dieses im Geist wieder erleben. Die elterlichen Erfahrungen fühlen sich wie eine Last an und – logischerweise – denken sie, auch als Schutzmechanismus: „Warum soll ich mich belasten, wenn es mir hier doch gut geht?“

Haben die Eltern es geschafft, durch ihre Erzählungen die Neugier ihrer Kinder zu wecken, ist es die halbe Miete. Denn nicht jedes Kind wird sich dafür interessieren. Ich z. B. habe vier Geschwister und bin das einzige Kind, das sich wirklich tiefgründig mit dem Thema meiner Herkunft beschäftigt hat. Obwohl die Erziehung und das Umfeld dieselben waren.

Wenn diese 2. Generation sich nicht vietnamesisch fühlt, impliziert es womöglich, dass die Zugehörigkeit, bzw. die oben angesprochene Identität nur ein Gefühl ist. Weiterhin sollte man sich fragen: Definiert sich die Verbundenheit zu einem Land (Heimatliebe) unbedingt durch die Blutlinie? Das glaube ich nicht: Viele „Fremde“ ohne vietnamesische Blutlinie lieben Vietnam aus tiefstem Herzen und betrachten dieses Land sogar als ihre wahre Heimat.

Es ist weiterhin ein gutes Zeichen, dass sich die 2. Generation (im Ausland geborene Vietnamesen oder Menschen vietnamesischer Abstammung) im neuen Heimatland derart gut angepasst und integriert hat. War das innerlich nicht der Traum ihrer Eltern? Eltern wollen in der Regel immer, dass es ihren Kindern besser ergeht als ihnen damals. Aus Liebe möchten sie ihnen den schweren Weg der Entbehrung, das Leid ersparen. Dieser Weg beinhaltet aber leider das Risiko der Entfremdung zu den Wurzeln. Und hier gibt es, meine ich, nur einen Weg: Multikulturelle Bildung und breite Aufklärung im Elternhaus, in der Hoffnung, dass die Liebe der Kinder zur Heimat früh oder später doch erweckt wird – aber nur vorausgesetzt, dass dem Kind genug Freiraum gelassen wird, um den eigenen Menschenverstand zu entwickeln und selbst zu entscheiden, ob es die Heimatliebe entwickeln will oder nicht. 

Liebe kann nicht erzwungen werden, auch nicht Heimatliebe. Am Ende wird sich ein Kind dafür interessieren und das andere nicht.

Die Liebe zu meiner (Teil)Heimat Vietnam ist aufgrund meiner erlebten Gefühle und der dabei entwickelten Empathie gewachsen. Ich durfte immer selbst mein eigenes Bild entwickeln. Vielleicht war das die subtilere Art und Weise meiner vietnamesischen Mutter Loan, mich an diesem Punkt zu bringen. Sie hat mich niemals gezwungen, Vietnam zu lieben. Stattdessen hat sie mir vietnamesische Musik vorgespielt, hat gesungen und mir die Texte übersetzt. Sie hat vietnamesisch gekocht und so einen starken Bezug zu Vietnam geschaffen. Ich habe mich aber selbst dafür interessiert und das ist hier ein wesentlicher, enormer Unterschied.

VII.

Wie du aus ihrer Biographie erfahren hast, bestand schon bei ihr das Problem der Zugehörigkeit: Sie gehörte (angeblich) nicht mehr Vietnam an, weil sie das Land verlassen hatte (den wahren Kontext zu kennen, ist deshalb wichtig). Und sie war in Frankreich nicht willkommen (die Geschichte von u. a. Dien Bien Phu spricht für sich). Sie gehörte also plötzlich keinem Land mehr, war heimatlos (ein schrecklicher Gedanke), obwohl sie ihre Heimat Vietnam immer zutiefst weiterhin liebte und sich parallel dazu in Frankreich integrieren wollte. Im Herzen war der Ruf nach Zugehörigkeit, nach Liebe groß. Bedingt durch das ablehnende Verhalten (nicht Akzeptanz) meines Umfeldes, habe ich schnell als Kind gelernt, mich fremd zu fühlen, trotz meines innerlichen Wunsches, doch zu beiden Ländern gehören zu wollen. Meine Mutter hat damals gute Lösungen zu den Dilemmas gefunden:

1) Bildung war ein Schlüssel, um sich erst Respekt zu verschaffen. Wer respektiert wird, wird auch wahrgenommen und kommt besser durch Widrigkeiten durch. 

2) Genauso wie eine Heimat, sollte man die Erde (als Planet) betrachten. Deshalb sind wir keineswegs heimatlos, weil wir Menschen auf Erden sind. Irgendwie tröstlich. Diese Aussage beantwortet die im Interview aufgekommene Frage der Gleichberechtigung. Die Gleichberechtigung sollte nicht nur für Mensch, sondern für alle Lebewesen sein, aus Respekt für das, was Leben bedeutet.

Weiterhin entwickelt sich Heimatliebe von den im Ausland geborenen Menschen vietnamesischer Herkunft durch die Art, wie sie im angesprochenen Land empfangen und wahrgenommen werden. Noch einmal möchte ich die Wichtigkeit der Entwicklung des gesunden Menschenverstandes unterstreichen.

Hier Beispiele: Frankreich ist das Land, in dem ich geboren wurde und ich aufgewachsen bin. Es ist aufgrund vieler Verhaltensweisen ein nationalistisches Land. Mir wurde damals als Kind eingetrichtert (teilweise von meiner französischen Familie und von einigen Lehrern sogar), wie schlimm der 1. und der 2. Weltkrieg waren (ich widerspreche nicht) und wie fast noch schlimmer es sei, sich mit den furchtbaren Germanen (die Deutschen) vermischen zu wollen = einem Landesverrat gleich. Hätte ich darauf gehört, ohne meinen Verstand einzusetzen und selbst Rückschlüsse zu ziehen, hätte ich niemals die deutsche Sprache gelernt (Sprachen sind übrigens auch sehr wichtig, um sich zu integrieren und die Welt zu verstehen = Thema Kommunikation). Deutschland hat mir schließlich bessere Zukunftschancen gegeben, als in Frankreich. Inzwischen besitze ich auch die deutsche Staatsbürgerschaft. Ich habe einen deutschen Mann, zwei Deutsch-französische Kinder. Deutschland ist also zu meiner zweiten, geliebten Heimat geworden. Und trotzdem liebe ich Frankreich und respektiere es als mein Ursprungsland, das mir auch zu einer gewissen Zeit eine glückliche Zeit beschert und in der Not geholfen hat (ich bekam ein hohes, staatliches Stipendium, um in Frankreich zu studieren).

Zweites Beispiel: Auf der Suche nach meinen vietnamesischen Wurzeln (nach eigenem Bekunden meines Interesses dafür), besuchte ich 1990 das Land meiner Wurzeln – auch mit dem innerlichen Wunsch, dazu zu gehören und angenommen zu werden. Mein Aussehen ist alles andere als Vietnamesisch, doch mein Herz schlägt in mancher Hinsicht vielleicht sogar stärker als manches vietnamesisches Herz. Ich wurde zum größten Teil sehr liebevoll empfangen, als ein Kind zweier Welten, zweier Kulturen. Dieses Gefühl, „zu Hause angekommen zu sein“ war überwältigend und gab mir ein Stück meiner Selbst zurück. So sehr, dass ich Vietnam ebenso als mein weiteres, geliebtes Heimatland betrachte. Herr Vu Minh Anh sagte im Interview auch: “Die Welt ist bunt“. Das stimmt. Man darf mehrere Heimatländer haben. Man liebt sie nur auf unterschiedliche Weise.

Stelle ich mir die Fragen: Bin ich mehr Deutsch als Französin? Bin ich mehr Vietnamesin als alles andere? Sollte ich mir überhaupt diese Fragen stellen, um glücklich zu sein? Nein. Ich habe beschlossen, aus jedem Land, das mir Willkommen heißt, voller Dankbarkeit ein Heimatland zu machen. Ich mache daraus einen Vorteil, anstatt ein Hindernis.

VIII.

In beiden Fällen lasse ich bewusst keinen Raum für Zerrissenheit (begrenztes Denken ruft Zerrissenheit hervor). Beides ist gut und ist multiplizierbar auf allen Ländern dieser Welt. Man sollte Identität deshalb nicht be/einschränken indem man sagt: „Mein Kind sollte sich mehr vietnamesisch fühlen und sich entsprechend verhalten“. Stattdessen sollte man den menschlichen, universellen Aspekt hervorheben und sagen: „Mein Kind ist ein Kind zweier Kulturen. Das ist gut so und eine Bereicherung unserer Gesellschaft. Mein Kind ist am Ende ein Mensch.“ Man kann keine Farben vermischen und erwarten, dass das erzeugte Ergebnis eine einzige Farbe enthält. Man kann keine Pflanze einpflanzen in der Erwartung, dass sie nur eine Art Wasser trinkt und bestimmte Sonnenstrahlen annimmt, denn sie wird sich sowieso das nehmen was sie braucht, um zu überleben und sich zu entfalten – aufgrund des Bodens und der Nahrung, die sie bekommt und annimmt oder nicht.

Identität, Zugehörigkeit und Heimatliebe kommen durch natürliche Veranlagung, Wissen und Kultur. Kultur kommt durch Bildung. Sie bilden einen Kreis und der Mensch entscheidet, ob es ein Engelskreis oder ein Teufelskreis wird. Ein Garten bleibt brach oder wird kultiviert. Das liegt an jedem Einzelnen und der Prozess beginnt im Elternhaus. Der Wille und das zu entwickelnde Potential der einzelnen Person, sowie die wirtschaftlichen, gesellschaftlichen, geographischen und politischen Faktoren werden die Richtung beeinflussen – doch das ist wohl ein anderes Thema.

Wir sind äußerlich und innerlich nicht alle gleich. Wir sind einzelne Wesen in ihrer unendlichen, bereichernden Vielseitigkeit. Zu dieser Episode hätte der Titel “To love mankind as it is” gut gepasst. Nicht nur die Welt, sondern den Menschen zu lieben, wie er ist, ist meines Erachtens der Schlüssel zur Gelassenheit.

Wie du siehst, lieber Quang, sind dein Podcast und Eure beiden Meinungen sehr inspirierend. Das sind die zusammengefassten, spontanen Gedanken meiner kleinen Person beim Zuhören. Gewiss sind sie nicht völlig ausgereift und bedürfen an mancher Stelle Verbesserungen. Doch sie unterstreichen, hoffe ich, die Wichtigkeit von Dialog und Wertevermittlung, um einen nachhaltigen Weg in Richtung positiver Zukunft gemeinsam zu bauen. 

Hier noch einmal das Zitat meiner geliebten Mutter Loan:

„Was hat mich getrieben? Hoffnung! Hoffnung für die Vertriebenen, für die Verlassenen, für die Einsamen und für die, die an den Himmel glauben. Hoffnung, meinen Kindern etwas auf den Weg mitgegeben zu haben; das zu erreichen, was ich nicht geschafft habe! Wenn meine Kinder es nicht schaffen, wer dann?“

Wir „eingedeutschte Menschen“ sollten deshalb den wichtigen, wertvollen Samen der alten, guten Tugenden weiterhin sähen, in der Hoffnung, sie fallen auf fruchtbarem Boden.

Quelle: Facebook, 30.07.2021

Chim băng

‎⁨Biosphärenreservat Spreewald⁩, ⁨Burg (Spreewald)⁩, ⁨Brandenburg⁩, ⁨Deutschland⁩ (Foto: THQ 2016)

(Chuyện nghề dịch)

Có một lần, từ lâu lắm rồi, cách đây dễ chừng đã hai mươi năm, tôi có dịp tháp tùng một đoàn chuyên gia môi trường Việt Nam đi tham quan Spreewald, một khu rừng bảo tồn thiên nhiên cách Berlin gần 100 km về hướng Đông Nam. Quản lý môi trường, bảo tồn thiên nhiên, và khoảng chục năm trở lại đây chủ đề thích ứng với biến đổi khí hậu là một trong những trụ cột của quan hệ hợp tác phát triển Đức Việt, với các cơ quan thực hiện khác nhau như DSE (Quỹ Phát triển Quốc tế Đức), GTZ (Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức), InWent và giờ đây là GIZ (Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức). Vào giai đoạn đầu tiên, từ giữa những năm chín mươi, những chuyến đi khảo sát hay tập huấn như vậy được tổ chức hết sức công phu và đương nhiên cũng vô cùng tốn kém. Phần lớn các chương trình kéo dài hai tuần, thậm chí có lúc đến ba tuần, với những chủ đề như „Đánh giá môi trường với sự tham gia của cộng đồng“ („Partizipative Umwelterhebungen“), với một team hội thảo không thể nào hùng hậu hơn, gồm một đến hai hướng dẫn viên, hai MC (một người Đức và một người Việt), ba trợ lý hội thảo (trong đó một bạn chỉ có việc duy nhất là chụp ảnh để làm tư liệu), hai và có lúc đến ba phiên dịch Đức Việt và Anh Việt. 

Lần mà tôi tháp tùng đoàn khảo sát đi thăm Spreewald chắc đã vào một giai đoạn về sau, với một nhóm người tham gia không lớn lắm, phân ra ngồi vừa đủ trên hai hay ba con thuyền gỗ, và người chèo thuyền cũng đồng thời là hướng dẫn viên. Dạo đó đã có sẵn chút lưng vốn kiến thức và thuật ngữ về lĩnh vực sinh thái, quản lý môi trường, nhưng thật tình tôi vô cùng e ngại khi mỗi lần được các anh chị trong đoàn hỏi về tên Việt các loài chim, cây, hoa v.v. thấy dọc đường đi. Cầu được ước thấy, trên chuyến thuyền gỗ lướt sóng trên những dòng suối trong khu rừng Spreewald ngày ấy, người hướng dẫn hầu như chỉ say sưa kể về sự đa dạng sinh học của quê hương anh. Đương nhiên là rất nhiều loài cá, chim chóc, hươu nai, cây cỏ v.v. được điểm danh và người phiên dịch là tôi lúc đó đã tập trung cao độ để khai thác triệt để vốn từ vựng sinh học khiêm tốn của bản thân. Nhưng đến lúc nghe người hướng dẫn kể trong khu rừng này có cả loài “Eisvogel” thì thông ngôn bị khựng lại mấy giây, và vì bí từ nên tiếp theo đó phải chuyển ngữ theo kiểu ghép từ nguyên “Chim Băng” (Eis-Vogel). Các anh chị trong đoàn Việt Nam im lặng không nói gì, vì thông ngôn cũng giải thích ngay đây chỉ là một cách dịch tạm. 

Một lát sau trước mũi thuyền bỗng nhiên có một chú chim màu sắc sặc sỡ bay vút lên. Người chèo thuyền kiêm hướng dẫn viên kêu to: Đấy, đấy, „EISVOGEL“ đấy! Cả đoàn Việt Nam lúc đó gần như đồng thanh, a, thì ra là … CHIM BÓI CÁ! 

Khỏi nói là thông ngôn được một phen ngượng chín người, không phải là lần đầu tiên và chắc chắn cũng không phải là lần cuối cùng. Về sau này, khi đã có dịp tra cứu, người ấy mới biết tên gọi „Eisvogel“ vốn có nguồn gốc trong tiếng Đức cổ là „isvogal“ („is“ có nghĩa là „Eis“ = băng/nước đá), vì loài chim này được cho là ấp trứng trong mùa đông. Chữ „isvogal“ về phần nó lại là một biến thể từ „isarnovogal“ = Eisenvogel (chim sắt), được gọi theo màu lông xanh của nó. 

Bất chấp tất cả các khía cạnh ngữ âm, từ nguyên, biểu tượng văn hóa đặc thù gắn liền với cái tên gọi „EISVOGEL“ này, cái tên gọi tương ứng „CHIM BĂNG“ trong tiếng Việt tất nhiên là một cấu trúc vô nghĩa, một giải pháp tình thế bất đắc dĩ. Và cái danh xưng „CHIM BÓI CÁ“ có từ bao đời trong tiếng Việt, được sử dụng một cách hiển nhiên và hồn nhiên trong môi trường bản ngữ, bất ngờ đồng thanh vang lên vào thời điểm đó đã trở thành một ký ức thật đặc biệt, và rồi cũng nhanh chóng bay mất hút, như chú chim xanh kỳ lạ trên bầu trời rừng Spreewald ngày nào.

(Đăng lần đầu trên FB, ngày 25.02.2021)

TO LOVE THE WORLD AS IT IS (II)

Fortsetzung des Gespräches mit dem deutsch-vietnamesischen Touristikmanager VU MINH ANH, Gründer und Geschäftsführer der Firma „Terraverde – Travel with your Senses“, Ho-Chi-Minh-Stadt, Vietnam. 

Sprache: Deutsch

Musikalischer Einstieg und Ausklang: Silvius Leopold Weiss (1687-1750), Suite in A Dur: Allemande, aus dem Album “Guitar Music Vol. 6 – Long Plays Others 2” von Dang Ngoc Long (Logiker-Musikverlag Berlin 2021). Wir danken dem Komponisten und Gitarristen Prof. Dang Ngoc Long herzlich für seine Erlaubnis, Auszüge aus seinem Album in unserem Podcast zu verwenden.

YÊU THẾ GIỚI NHƯ NÓ HIỆN TỒN (II)

Tiếp tục trò chuyện với doanh nhân Đức gốc Việt VŨ MINH ANH, nhà sáng lập và Giám đốc điều hành công ty du lịch Terraverde, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Ngôn ngữ: Tiếng Đức

Âm nhạc: Silvius Leopold Weiss (1687-1750), Suite in A Dur: Allemande, trích từ Album “Guitar Music Vol. 6 – Long Plays Others 2” của Đặng Ngọc Long (Nhà xuất bản Logiker-Musikverlag Berlin 2021). Chúng tôi chân thành cảm ơn nhạc sỹ và nghệ sỹ Guitarre GS. Đặng Ngọc Long đã cho phép sử dụng một số trích đoạn từ Album của ông tại Podcast này. 

Video-Podcast „Leben mit Corona – Deutsch-vietnamesischer Podcast aus Berlin“ / Video-Podcast “Sống chung với Corona – Podcast Việt-Đức từ Berlin”  

# 24, Sonntag / Chủ nhật, 18.07.2021

Nguyễn Thị Thu Lan (1928-2003), Đại gia đình cụ Thức

Ba chị em gái (từ trái sang phải: Thanh Thúy, Bạch Đào, Thu Lan)

Thế hệ cháu Phúc, Thùy An, Thùy Dương gọi cha mẹ tôi bằng cụ.

Cha tôi mất năm 1950. Hồi đó anh tôi là trưởng công an ở Nghi Lộc. Đám tang cha tôi, người đi tiễn rất đông (nếu lùi lại bốn năm sau thì nguy hiểm vì nhà tôi đều bị quy là địa chủ, đối tượng của cách mạng ruộng đất). Tôi lúc ấy đã hơn 20 tuổi, thế mà còn ngây dại. Ý niệm về cha tôi cũng mờ nhạt. Chỉ nhớ cha là người hay đọc sách, tư lự và thường dùng ngón tay trỏ viết chữ trong khoảng không. Tuy không có bằng tú tài, cử nhân như các bác trong họ – bác Tú Đồng, bác Tú Hai – nhưng cha đã học trường Quốc tử giám Huế nên cha là người học giỏi chữ nhất trong họ, phụ trách viết gia phả cho họ Nguyễn Đình. Cha tôi tính sạch sẽ, thích lau chùi và thay đổi vị trí trong nhà, và đặc biệt chăm vườn hoa cây cảnh. Bao nhiêu năm qua, vật đổi sao dời, nhưng tôi vẫn nhớ như in “vườn hoa” (tên gọi để phân biệt vườn rau và cây ăn quả) mà cha tôi thiết kế chăm sóc. Vườn bao bọc bởi hàng rào ngâu, cha thường dùng kéo xén cây tạo dáng rất đẹp. Trong vườn nào lựu đỏ, lựu trắng, khóm nhài, luống huệ trắng thơm ngát. Chính giữa vườn, một bể cá có hòn non bộ với chú ngư, chú tiều, cây sinh, cây si… Trong làn nước trong xanh, lập lờ những cánh rêu, từng đôi cá vàng, cá bạc vảy lấp lánh, đuôi vây xòe ra, bơi lượn lờ, đôi mắt mở tròn vo. Giáp với vườn hoa là cái sân gạch rộng mênh mông, mỗi đêm trăng sáng mùa hè, khi có khách đến ăn cơm, hoặc con cái về đông lại dọn bàn ăn ra ngoài đó. Từng cụm chuyện trò với nhau rôm rả dưới ánh trăng mát mẻ, trong bầu không khí tịch mịch của vùng quê.

Cha tôi sống lặng lẽ, hơi nhút nhát. Đối với chính quyền thực dân phong kiến lúc bấy giờ, thái độ của cha là “kính nhi viễn chi”. Người chỉ quanh quẩn trong nhà, đi chơi các bác, các chú và đến nhà thờ họ Nguyễn Đình những ngày giỗ tết. Còn quan hệ đối ngoại là mẹ tôi.

Mẹ tôi xuất thân trong gia đình quan lại nghèo. Ông ngoại tôi đậu cử nhân (chữ Nho) và làm tri huyện, tục gọi là cụ huyện Làng Chay, theo tên gọi của nơi mà ông bà ngoại tôi ở. Ông ngoại tôi mất trước khi tôi sinh ra. Ông được thăng tri phủ, nhưng theo phong trào Cần Vương nên bị chính quyền thực dân phong kiến bắt và ốm chết. Còn bà ngoại tôi thường đến chơi với gia đình tôi. Chính bà ngoại đã giúp đỡ khi mẹ trở dạ tôi. Hồi ấy tôi quá bé nên không hình dung lại được bà thế nào.

Mẹ tôi là người chăm chỉ làm việc từ lúc còn bé thơ. Cụ ngoại là người nghiêm khắc nên mới có mấy tuổi mẹ đã cùng dì Giáp, tức chị mẹ tôi, đi cắt cỏ. Mẹ về làm bạn với cha lúc 11 tuổi, cha 13 tuổi. Bà nội đi chợ còn phải mua quà cho cả hai người. Khi lớn hơn một tí, hai người bị các người quản gia trong gia đình bà nội làm cho nhiều phen vất vả.

Mẹ là người vừa nhân hậu, vừa có bản lĩnh. Mẹ là cột trụ trong gia đình, lo cuộc sống cho một đại gia đình mười mấy người cả con, cháu, người ở. Nhờ tấm lòng thương người, sẵn lòng giúp đỡ cưu mang người khác, sống chan hòa với mọi người, nên những lúc gia đình có những bước ngoặt, khó khăn thì được sự thông cảm, chia sẻ, giúp đỡ của người khác. Sau trận ốm của cha tôi gia đình khánh kiệt. Cố Chắt Hệ đã cho mẹ tôi vay vốn để kinh doanh nghề sản xuất nước mắm nên đã khôi phục lại cơ đồ. Mẹ ít khi ở nhà, nếu không ra Hải Phòng áp tải hàng hóa hoặc lấy tiền – nhà buôn lớn là bà Sinh Vinh lúc bấy giờ thường bán được hàng rồi mới trả tiền – thì cũng vào Phan Rang, nơi dì Giáp ở. 

Những lúc mẹ ở nhà thì cũng thường đi đây đi đó, tìm các mối hàng để mua, khi được giá thì bán buôn hoặc bán lẻ cho người khác. Tuy bận bịu việc làm ăn nhưng bao giờ mẹ cũng dành thời gian giáo dục con cái. Việc giáo dục của mẹ tôi cũng nhẹ nhàng, chỉ bằng những câu chuyện tâm tình, hoặc những câu ca dao tục ngữ để truyền lại cho chúng tôi nhân cách sống làm người. Mẹ tôi không biết chữ nhưng khi nào tối đến, những lúc người ở nhà, đều kiểm tra chúng tôi đã thuộc bài chưa mới cho đi ngủ. Mẹ tôi luôn chăm lo việc học cho ba chị em tôi: Đào, Lan, Thúy. Lớp các chị Nhàn, chị Phi, chị Hiếu vì hoàn cảnh gia đình nghèo, đông con nên phải chịu cảnh thất học. Còn chị Lộc thì mẹ tôi cho dì Giáp làm con nuôi lúc nhỏ nên chị cũng chỉ được học ít rồi giúp dì bán hàng, làm việc nhà từ còn ít tuổi. Tôi còn nhớ, mẹ tôi gửi chị em tôi cho chú Mai Khánh dạy ở nhà chú, rồi học thầy Đồ Điệt làm gia sư ở nhà chú Bang Lượng. Hè đến chúng tôi được học hè. Khi thì học với anh Ký con bác Chắt Nga, khi thì học với chú Khang con chú Tự. Hồi tôi học trường làng, những lúc mưa gió mẹ gửi tôi vào nhà bà Bang Kiều, ăn cơm trưa ở đấy. Cơm và cá từng nồi lớn, ăn no thì thôi.

Những lúc chúng tôi làm người phiền lòng, người có đánh chị em tôi bằng con roi vót bé xíu, vừa đánh một roi, vừa giảng giải. Thúy gan dạ nhất, mẹ đánh không bao giờ Thúy khóc. Có một hôm, sau khi mẹ đánh, Thúy khóc nức nở. Mẹ hỏi: “Tại răng lần rồi mẹ đánh con lại khóc?” Thúy nức nở trả lời: “Vì mẹ đánh không thấy đau, con biết mẹ đã yếu, con thương mẹ mà khóc”. Cũng vì gan cóc tía mà một lần tôi và Thúy bị anh đánh. Trong đám cưới chị Thành, hai đứa trêu nhau tắt đèn đi. Thúy bị tôi mách lẻo với anh. Nó không sợ anh đánh vì nó có gan cóc tía. Anh quất cho nó hai roi bật máu. Tội nghiệp em tôi.

Cha tôi sống thời tôi còn bé dại nên kỷ niệm về người cũng ít, chỉ biết tính người ôn hòa, không bao giờ xúc phạm đến người khác, sống giản dị. Bữa ăn dầu có nhiều thức ăn ngon hay không cha cũng chỉ ăn ba lưng bát, không rượu chè cờ bạc, trai gái như các vị đương thời với cha tôi. Được bộ quần áo lụa tơ tằm trắng, cha thỉnh thoảng lấy ra giặt sạch rồi cất vào tủ. Cha tôi rất tôn trọng mẹ tôi, chẳng bao giờ chúng tôi thấy cha mẹ tôi nói to tiếng với nhau. Cha tôi mất, đúng 20 năm sau (1970) mẹ tôi mới mất. Mẹ tôi sống được 79 mùa xuân đã chứng kiến bao vinh nhục của cuộc đời. 

Ông nội tôi, cụ Cai Vạn, là người rất giàu có về tiền bạc và danh vọng và thông gia với những nhà khoa bảng và quan lại. Ông mất sớm, bà nội tôi là vợ hai nên không được gì gia sản và lại điên điên nên mẹ tôi vất vả gánh vác việc nhà chồng, nuôi một đoàn em chồng, toàn các chú: chú Đa, chú Trị, chú Thâu (tức chú Vinh), dựng vợ làm nhà cho các chú. Đẻ thì nhiều (11 người con) nhưng lại hữu sinh vô dưỡng (chỉ nuôi được sáu người trưởng thành). Tất bật lo sinh kế cho cả một đại gia đình, nhưng mẹ tôi đã chèo chống giỏi, nhờ tài tháo vát, nghị lực và sự giúp đỡ của nhiều người. Nhờ vậy các con không bị đói rách, được học hành, xây dựng được nhà cửa khang trang, tiện nghi trong gia đình đầy đủ so với thời bấy giờ. 

Thời mẹ tôi mới sinh các chị Nhàn, chị Phi, anh Phượng, chị Hiếu nhà tôi nghèo lắm. Mẹ tôi thường nói: “Kéo cây rào từ đầu này nhà đến đầu kia nhà không có cái gì”. Phải chăng vì vậy mà mẹ tôi cho chị Thành tôi làm con nuôi bà Thái ở Hải Phòng và cho chị Lộc tôi làm con nuôi dì Giáp? Thật thương cho các chị và thương cho mẹ tôi. Thời đó đã làm gì có sinh đẻ có kế hoạch như bây giờ, đẻ chỉ là sự tự nhiên, rồi đẻ ra, nuôi lớn như thế nào xã hội đâu có quan tâm như bây giờ. Từ lúc chị Đào tôi sinh ra, gia đình cũng đã nuôi được người giúp việc, cha mẹ tôi đã làm được nhà cao cửa rộng. Căn nhà đó cha mẹ tôi đã dành dụm mười năm công sức, tiền bạc mới làm nổi. Sau này, thời chiến tranh chống Mỹ hư hỏng nhiều không có tiền sửa lại, anh trai tôi lại không có ý định ở lại nơi chôn rau cắt rốn nên đã bán đi. Sau này vài lần về quê, tôi không lúc nào đặt chân lên mảnh đất cũ đã ghi bao kỷ niệm của gia đình tôi, của chị em tôi thời thơ bé. Vì người không còn và cảnh đã thay đổi khác xưa, nhìn lại chỉ thêm đau lòng.

Ngồi viết lại những dòng này, tôi đã 70 tuổi. Sáu anh chị em trưởng thành nay chỉ còn bốn chị em gái cùng ở Hà Nội, chỉ cách nhau mười cây số trở lại.

(Trích từ Hồi ký, viết năm 1997, bản điện tử do cháu nội Trương Thùy An thực hiện)

Làng thì ở đâu cũng là làng

Sáng hôm nay tôi mang xe ô tô đi chữa ở một xưởng cách nhà tôi chỉ mấy nóc nhà. Vào giờ chiều khi đến nhận xe ở xưởng thì ông chủ cho biết xe đã chữa được đỗ ở đâu đấy ngoài đường. Lúc tôi đang loay hoay đi tìm xe thì có một bà cụ, theo phỏng đoán của tôi chừng 70 tuổi hoặc trẻ hơn, dừng lại và rất thân thiện hỏi liệu bà có thể giúp đỡ được gì. Sau một hai phút trò chuyện sôi nổi và hai bên đã tường tận về việc xe tôi vừa được chữa, nhà của tôi ở phía cuối làng v.v. thì tôi chợt nhận ra xe của mình đã được nhân viên của xưởng mang đến đỗ ngay trước cổng nhà. Bà cụ khen cách làm việc của xưởng này, bà cho biết bà cũng là khách hàng lâu năm ở đó và biết ông chủ xưởng từ lúc người đó còn là một chàng trai trẻ.

Từ chuyện nọ lan man sang chuyện kia, hoá ra bà cụ cũng biết rất rõ về gia cảnh của ông chủ cũ ngôi nhà của tôi, đặc biệt là câu chuyện tình ái khá ngang trái của ông (tiếc là không thể kể lại kỹ hơn ở đây, chỉ có thể bật mí là cái kết cục của nó cũng chính là nguyên nhân để ông bán nhà gần tám năm về trước). Bà cũng cho biết bà mẹ vợ cũ của ông chủ cũ (cụ ấy năm nay chắc đã gần 100 tuổi) hiện vẫn còn sống, chỉ có con chó của bà ấy là đã chết…

Về làng đã hơn bảy năm nhưng thực tình tôi chỉ quen rất ít người trong làng, ngoại trừ hai gia đình láng giềng trực tiếp, nên những câu chuyện như vậy tất nhiên là vô cùng hấp dẫn. Bà cụ cho biết bà cũng là hàng xóm trong làng, cách nhà tôi khoảng 5-6 nóc nhà gì đó, trên sân có đỗ một con xe Trabant – một hobby của chồng bà. Bà cũng đã nhiều lần thấy phu nhân của họ Trương làm việc như con ong chăm chỉ ở ngoài vườn, và chắc bà cũng đã đọc tên của gia chủ trên biển tên trước cổng nhà, vì sau đó bà xin phép hỏi ông “Doktor” bảo vệ luận án trên lĩnh vực nào. Khi biết tôi học Ngữ văn ở Đại học Leipzig và bà hỏi tên ông thầy của tôi và tôi nói chắc chắn bà không thể biết đến GS. Claus Träger thì bà mỉm cười và cho biết, tất nhiên là bà biết GS. Träger!

Lúc trao đổi những câu chuyện này thì chúng tôi đã đi đến bên cạnh xe ô tô và trước cổng nhà của tôi, lẽ ra cuộc gặp tình cờ đã đến lúc phải dừng lại. Nhưng tất nhiên là tôi vẫn hỏi tiếp và được bà cho biết bà cũng là cựu sinh viên tại Đại học Leipzig, lúc đó còn là Karl-Marx-Universität (KMU). Và lúc bà kể về thời gian khoá học của bà thì tôi phải hỏi lại đến hai lần vì không thể tin vào tai của mình: bà bắt đầu nhập học ở KMU năm 1962, lúc vừa tròn 18 tuổi! Có nghĩa là bà cụ năm nay đã 77-78 tuổi (khi quan sát bà lúc đầu tôi nghĩ bà chỉ mới cuối 60, đầu 70).

Ngoài GS. Träger bà còn nhắc đến GS. Walter Markov, nhà sử học hàng đầu của CHDC Đức, cũng vốn là GS. ở KMU và là thầy dạy trực tiếp của bà. Bà không học cùng ngành ngữ văn như tôi (hay vật lý như một một cựu sinh viên nổi tiếng của KMU – chi tiết này là tôi thêm bây giờ!), mà học ngành Afrikawissenschaften (Châu Phi học), và bà từng là một nhà ngoại giao của CHDC Đức, chủ yếu làm việc ở các nước Phi châu.

Có một chi tiết thú vị nữa là khi tôi nhắc đến việc tôi từng có dịp gặp H. Markov, con trai của GS. W. Markov, lúc ông còn là Bộ trưởng Tài chính kiêm Phó Thủ hiến Bang Brandenburg, thì bà cho hay bà cũng biết H.M., cả về nguyên nhân thực sự liên quan đến việc rút lui khỏi chính trường của ông ấy về sau này.

Lúc chia tay, bà còn cho tôi biết thêm ở ngõ phố bên cạnh có một vị GS. văn chương rất nổi tiếng, tất nhiên ông cũng đã nghỉ hưu nhưng vẫn rất minh mẫn, rồi bà hứa vào một ngày không xa sẽ tổ chức một cuộc hội ngộ của giới văn nhân ở làng!

Và câu chuyện kể của tôi (nhớ đến đâu viết vội đến đấy để không quên) đến đây là hết 🙂