Làng thì ở đâu cũng là làng

Sáng hôm nay tôi mang xe ô tô đi chữa ở một xưởng cách nhà tôi chỉ mấy nóc nhà. Vào giờ chiều khi đến nhận xe ở xưởng thì ông chủ cho biết xe đã chữa được đỗ ở đâu đấy ngoài đường. Lúc tôi đang loay hoay đi tìm xe thì có một bà cụ, theo phỏng đoán của tôi chừng 70 tuổi hoặc trẻ hơn, dừng lại và rất thân thiện hỏi liệu bà có thể giúp đỡ được gì. Sau một hai phút trò chuyện sôi nổi và hai bên đã tường tận về việc xe tôi vừa được chữa, nhà của tôi ở phía cuối làng v.v. thì tôi chợt nhận ra xe của mình đã được nhân viên của xưởng mang đến đỗ ngay trước cổng nhà. Bà cụ khen cách làm việc của xưởng này, bà cho biết bà cũng là khách hàng lâu năm ở đó và biết ông chủ xưởng từ lúc người đó còn là một chàng trai trẻ.

Từ chuyện nọ lan man sang chuyện kia, hoá ra bà cụ cũng biết rất rõ về gia cảnh của ông chủ cũ ngôi nhà của tôi, đặc biệt là câu chuyện tình ái khá ngang trái của ông (tiếc là không thể kể lại kỹ hơn ở đây, chỉ có thể bật mí là cái kết cục của nó cũng chính là nguyên nhân để ông bán nhà gần tám năm về trước). Bà cũng cho biết bà mẹ vợ cũ của ông chủ cũ (cụ ấy năm nay chắc đã gần 100 tuổi) hiện vẫn còn sống, chỉ có con chó của bà ấy là đã chết…

Về làng đã hơn bảy năm nhưng thực tình tôi chỉ quen rất ít người trong làng, ngoại trừ hai gia đình láng giềng trực tiếp, nên những câu chuyện như vậy tất nhiên là vô cùng hấp dẫn. Bà cụ cho biết bà cũng là hàng xóm trong làng, cách nhà tôi khoảng 5-6 nóc nhà gì đó, trên sân có đỗ một con xe Trabant – một hobby của chồng bà. Bà cũng đã nhiều lần thấy phu nhân của họ Trương làm việc như con ong chăm chỉ ở ngoài vườn, và chắc bà cũng đã đọc tên của gia chủ trên biển tên trước cổng nhà, vì sau đó bà xin phép hỏi ông “Doktor” bảo vệ luận án trên lĩnh vực nào. Khi biết tôi học Ngữ văn ở Đại học Leipzig và bà hỏi tên ông thầy của tôi và tôi nói chắc chắn bà không thể biết đến GS. Claus Träger thì bà mỉm cười và cho biết, tất nhiên là bà biết GS. Träger!

Lúc trao đổi những câu chuyện này thì chúng tôi đã đi đến bên cạnh xe ô tô và trước cổng nhà của tôi, lẽ ra cuộc gặp tình cờ đã đến lúc phải dừng lại. Nhưng tất nhiên là tôi vẫn hỏi tiếp và được bà cho biết bà cũng là cựu sinh viên tại Đại học Leipzig, lúc đó còn là Karl-Marx-Universität (KMU). Và lúc bà kể về thời gian khoá học của bà thì tôi phải hỏi lại đến hai lần vì không thể tin vào tai của mình: bà bắt đầu nhập học ở KMU năm 1962, lúc vừa tròn 18 tuổi! Có nghĩa là bà cụ năm nay đã 77-78 tuổi (khi quan sát bà lúc đầu tôi nghĩ bà chỉ mới cuối 60, đầu 70).

Ngoài GS. Träger bà còn nhắc đến GS. Walter Markov, nhà sử học hàng đầu của CHDC Đức, cũng vốn là GS. ở KMU và là thầy dạy trực tiếp của bà. Bà không học cùng ngành ngữ văn như tôi (hay vật lý như một một cựu sinh viên nổi tiếng của KMU – chi tiết này là tôi thêm bây giờ!), mà học ngành Afrikawissenschaften (Châu Phi học), và bà từng là một nhà ngoại giao của CHDC Đức, chủ yếu làm việc ở các nước Phi châu.

Có một chi tiết thú vị nữa là khi tôi nhắc đến việc tôi từng có dịp gặp H. Markov, con trai của GS. W. Markov, lúc ông còn là Bộ trưởng Tài chính kiêm Phó Thủ hiến Bang Brandenburg, thì bà cho hay bà cũng biết H.M., cả về nguyên nhân thực sự liên quan đến việc rút lui khỏi chính trường của ông ấy về sau này.

Lúc chia tay, bà còn cho tôi biết thêm ở ngõ phố bên cạnh có một vị GS. văn chương rất nổi tiếng, tất nhiên ông cũng đã nghỉ hưu nhưng vẫn rất minh mẫn, rồi bà hứa vào một ngày không xa sẽ tổ chức một cuộc hội ngộ của giới văn nhân ở làng!

Và câu chuyện kể của tôi (nhớ đến đâu viết vội đến đấy để không quên) đến đây là hết 🙂

LIỆU CÓ MỘT CƠ QUAN GỌI LÀ “THƯỢNG VIỆN” VÀ CHỨC DANH “THƯỢNG NGHỊ SỸ” Ở BANG BERLIN (CHLB Đức)?

Trong những ngày này trên truyền thông Việt ngữ của cộng đồng người Việt ở Berlin các chữ “Thượng viện” để dịch khái niệm “Senat” và “Thượng nghị sỹ” để dịch khái niệm “Senator” hay “Senatorin” (mà nhân vật được nêu đích danh nhiều nhất là “Thượng nghị sỹ” Dilek Kalayci) xuất hiện với một tần suất dày đặc.

Thực ra chữ “Senat” trong tiếng Đức ít nhất có 5 lớp nghĩa, từ nghĩa gốc trong tiếng Latinh “senatus” (Viện nguyên lão) cho đến các nghĩa khá chuyên sâu như trong khái niệm “Strafsenat” (Tòa hình sự) hay khái niệm “Akademischer Senat” để chỉ một tổ chức đặc thù trong một trường đại học.

Senat = “Thượng viện” và Senator/Senatorin = “Thượng nghị sỹ” đúng là lớp nghĩa phổ biến nhất hiện tại (xem nghĩa 2. trong mục từ “Senat” kèm theo của Từ điển DUDEN), nhằm chỉ một trong hai hội đồng của chế độ lưỡng viện hay quốc hội theo kiểu lưỡng viện (Hạ viện và Thượng viện), mà ví dụ nổi tiếng nhất là Hoa Kỳ.

Khái niệm “Senat” và “Senator”/”Senatorin” khi được dùng để chỉ thiết chế hành pháp ở Berlin (và cả ở Hamburg và Bremen) và các chức danh ở hệ thống này không hề đồng nhất với lớp nghĩa 2. vừa dẫn ở trên. Từ điển DUDEN cũng giải thích rất mạch lạc lớp nghĩa 3 này: Senat = “Landesregierung der Stadtstaaten Hamburg, Bremen und Berlin” (Chính phủ Bang ở các nhà nước đô thị Hamburg, Bremen và Berlin).

Để dễ hiểu hơn và có thể phân biệt với lớp nghĩa 2., tôi đề nghị nên dùng chữ “Chính phủ” khi dịch khái niệm “Berliner Senat” (Chính phủ Bang Berlin) và chữ “Bộ trưởng” chẳng hạn khi dịch khái niệm “Senator für Gesundheit” (Bộ trưởng Y tế). Tương tự như vậy nên dịch “Senatsverwaltung” là “Bộ”. Còn chức danh “Der Regierende Bürgermeister von Berlin” dịch theo nghĩa đen thành “Thị trưởng cầm quyền của Berlin” thì cũng ổn, nhưng trong hệ thống nhà nước Liên bang ở Đức, Berlin (cũng như Hamburg và Bremen) không chỉ đơn thuần là một thành phố, mà cũng là một nhà nước Bang độc lập, có Nghị viện riêng, Hiến pháp riêng. Vậy ông Michael Müller cũng chính là Thủ hiến Bang, có vị trí như 15 Thủ hiến Bang (Ministerpräsidenten) còn lại.

Tôi tin chắc là bà Dilek Kalayci sẽ rất vui mừng khi cộng đồng Việt ngữ chúng ta hiểu đúng chức danh hành pháp của bà (Bộ trưởng Y tế, Điều dưỡng và Bình đẳng giới) mà không trao thêm cho bà một nhiệm vụ mới nữa là “Thượng nghị sỹ” ở một cơ quan Thượng viện rất xa xôi tận trên đồi Capitol ở Washington, D.C., vì chỉ riêng công việc phòng chống Covid-19 ở Thủ đô Đức đã hết sức nặng nề!

TB. Riêng cho chữ “Senat” như là một tổ chức trong trường đại học tôi đã có được một từ tương ứng cực chuẩn trong tiếng Việt, cũng là do học hỏi thêm trong những lần đi dịch cho các cơ quan Bộ Giáo dục giữa hai nước. Nhưng tôi sẽ chỉ bật mí từ này khi “Berliner Senat” không còn được/bị gọi là “Thượng viện Berlin” và bà Bộ trưởng đáng kính Dilek Kalayci không còn được/bị gọi là “Thượng nghị sỹ”.

Gerd Irrlitz, Nơi đến của không tưởng

Gerd Irlitz (sinh năm 1935) nguyên là giáo sư lịch sử triết học tại Đại học Humboldt ở Berlin. Bài viết được trích dịch sau đây trong nguyên bản bao gồm 5 phần và được công bố lần đầu trên Tạp chí „SINN UND FORM“ („Ý nghĩa và Hình thức“) của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Berlin (CHDC Đức), số 5/1990, vào thời gian sau khi Bức tường Berlin sụp đổ và trước khi hai nhà nước Đức thống nhất. Bản dịch tiếng Việt in trên „Đối Thoại – Tạp chí Văn hóa – Khoa học xã hội Đức-Việt“, số 1 năm 1991.

II.

Họ chỉ biết tới các nhà kinh điển, và thường chỉ là dưới dạng các trích dẫn. Các văn bản giáo thánh đã bị tước khỏi nguồn gốc lịch sử, những mâu thuẫn nội tại và lịch sử tác động của chúng. Chỉ văn bản thuần túy, ý niệm của văn bản là có giá trị, cái ảo tưởng đang chiếm hữu với cử chỉ hách dịch một văn bản. Ý niệm văn bản đã tách khỏi phương pháp ngữ văn và sự bình chứng lịch sử – phê phán. Trong khi chuyển sang tồn tại khoa học xã hội, văn hoá và chính trị, ý tưởng tư biện đã biến thành sự biện giải chiết trung và thực dụng. Cái phổ biến của các suy luận mang tính nguyên lý rút ra từ các luận điểm cô lập của những văn bản đã bị phi lịch sử hoá được gắn liền với ấn tượng trực tiếp do các sự kiện để lại trên những hình dung về cứu cánh. Việc ứng dụng phép biện chứng đã bỏ qua không gì một cách tệ hại hơn là sự lưu chuyển phương pháp nhìn nhận cả sự kiện lẫn quy luật trong tính khuynh hướng của chúng. Do đó mà có sự nản lòng cao độ người đọc các bài viết triết học và khoa học xã hội vẫn vấp phải ngay từ những dòng đầu tiên, dường như trong khi nghe một buổi hoà nhạc theo mong muốn người ta lại bị thất vọng bởi toàn những nhạc cụ có âm thanh sai. Các ý nghĩ không tạo ra một đường hướng thú vị nào, không có gì đến mà người ta đã không biết trước, đã không thể biết là có thể hình dung như vậy. Những mảng ý nghĩa văn bản rời rạc đã có sẵn và chỉ còn có thể liên kết với nhau với một mức độ thuyết phục ít hay nhiều. Từ đó mà cũng hình thành một lối viết buồn tẻ tới mức nếu đâu đó xuất hiện một phong cách khoa học văn học thu hút sự chú ý thì sẽ gây nên sự nghi vấn. Khi sự kiện và luận điểm lý luận trừu tượng được lắp ráp trực tiếp với nhau thì cả lý thuyết và kinh nghiệm đều bị hủy hoại. Như lý thuyết khép kín bị xơ cứng thành sự đơn điệu tư tưởng, kinh nghiệm sẽ trở thành một thứ mưu mẹo thụ cảm cắt xén. Điều này ngày một tác động theo hướng ngược lại nhiều hơn đối với chính văn bản kinh điển. Nó bị tỉa gọt cho đến khi vừa vặn với khuôn khổ giáo khoa thư. Bản thân Marx, nhà tư tưởng khởi thủy, đã lùi hẳn về phía sau. Nhiều phần tác phẩm của ông, chẳng hạn các công trình ở giai đoạn đầu, là đề tài cấm kị, trong các lần xuất bản trước đây vẫn bị bỏ qua, và mãi về sau mới được đưa vào một tập bổ sung. Trong lời giới thiệu vào năm 1968 có câu rằng tính chất những bài viết vào giai đoạn đầu đã quy định về việc chúng chỉ có thể hiểu đúng nếu được đặt vào lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin. Có những phần trong lý thuyết của Marx một thời gian dài bị phủ nhận như lý thuyết về phương thức sản xuất châu Á. Bản thảo của Marx do Wittfogel hiệu đính về đối kháng giữa chế độ chuyên chế Nga và nền dân chủ châu Âu trong các toàn tập đều bị thiếu. Cho đến những năm sáu mươi, “Khái lược phê phán kinh tế học chính trị”, một văn bản có ý nghĩa trọng yếu đối với phương pháp luận Hegel của Marx và đối với quan niệm nghiên cứu lịch sử văn minh do Rosdolski bình luận, đã bị coi như một tác phẩm không hoàn toàn chính thống. Sư suy vong lý luận với bước chuyển tiếp của trào lưu xã hội chủ nghĩa sang việc thực hiện chủ nghĩa xã hội hiện thực đã làm đánh chìm lục địa tinh thần ban đầu vốn là xuất phát điểm của phong trào.

Sự phân hủy thực tại trong văn bản bị cắt xén bởi các nguyên do thực dụng thường nhật làm xuất hiện trong triết học và khoa học xã hội một sự thông thái khoa trương, một tổng hợp mang tính cách biếm hoạ giữa tư tưởng nhân đạo và chủ nghĩa kinh viện. Niềm khoái lạc trên sách vở là một chứng bệnh rồ. Sách vở đứng cao vòi vọi trên thực tại. Văn bản công nhận thực tại là xác thật hay lỗi thời (…). Cách xử sự với văn bản như là hệ quy chiếu của triết học và khoa học xã hội chỉ càng làm nhận rõ vực thẳm giữa ý nghĩa gốc của văn bản và thực tại của thế kỷ 20. Chính vì thế mà văn bản kinh thư cũng phải thường xuyên bị tỉa gọt cho tới lúc nó không còn là một văn bản thực sự nữa, mà chỉ là sự phản chiếu nỗi khốn cùng của ý thức thường nhật lên ảo ảnh của một văn bản sản sinh khởi thủy có khả năng giải toả mỗi một thực tại đối nghịch. Sự tụt hẫng trong trình độ lý luận của triết học mácxít hiện thực chẳng hạn có thể giải thích một cách đơn giản, song thực ra là theo lối trái ngược, rằng theo lôgich nội tại của một trường phái thì những kẻ bắt chước không phải là các thiên tài sáng tạo ban dầu. Điều này cũng không có nguyên nhân ở sự chuyển hóa của tư tưởng xã hội chủ nghĩa mácxít thành phong trào và tổ chức thực tế. Báo “Thời mới” của Kausky, rồi Luxemburg, Max Adler dù sao cũng còn viết trong một trào lưu mácxít rất đáng trọng. Chỉ với khởi đầu thắng lợi của thực tiễn cách mạng, lý luận của nó mới bắt đầu bị phân rã. Thành quả trái mùa, và từ đó một hệ tư tưởng ngày càng sai lầm đã gây nên sự tàn lụi của ý thức lịch sử, dẫn tới sự đàn áp chính trị và một thể chế tinh thần cưỡng ép, và đây là cơ sở xã hội học của trí thức khoa học xã hội mácxít hiện thực. Cơ sở xã hội học này không thể giải thích từ bản thân tầng lớp trí thức, mà từ sự biến thiên của hoàn cảnh lịch sử sau Cách mạng tháng Mười. Ở đây vấn đề cũng không nằm ở một phương diện được bộc lộ ra bề ngoài và mang tính định lượng. Với Cách mạng tháng Mười, không phải một học thuyết tự thân đúng đắn bị thực hiện sai lầm, hay bị thực hiện dưới những điều kiện ngụy tạo và bất thường, điều cũng đủ gây nên một biến dạng tinh thần. Ở đây yếu tố chính trị và đạo đức phi hiện thực và không tưởng trong chủ nghĩa Marx, trong tư tưởng gốc của Marx, đã được thực hiện, cái mà Marx đã lấy từ một cơ cấu thuộc về quá khứ của những bước quá độ lịch sử và áp đặt lên quan niệm tiến hoá kinh tế tư bản chủ nghĩa. Sự bùng nổ lịch sử thực tiễn của các mâu thuẫn tư tưởng nội tại trong cương lĩnh tinh thần của trào lưu xã hội chủ nghĩa với tư cách phong trào cộng sản đã dẫn tới giờ phút cáo chung của lý luận mácxít. Những mâu thuẫn này không được lý giải trên bình diện tranh luận học thuật. Tính bất đồng đều thời gian hàm chứa trong tư tưởng của Marx xuất hiện với tư cách một thế lực lịch sử thực tiễn. Bây giờ phần lỗi thời trong tác phẩm của Marx đã trở thành cái quyết định và thôi thúc – sự bình luận của Lenin về Marx hoàn toàn nằm trong tinh thần này -, còn yếu tố khoa học, sự quan sát chu đáo quan hệ sản xuất tư bản cho tới điểm chín muồi sẽ sản sinh ra sự biến đổi hình thái của chính nó, yếu tố này đã bị loại bỏ. Học thuyết chủ nghĩa đế quốc của Lenin (chủ nghĩa tư bản giãy chết và lười biếng), lý luận về đẳng cấp công nhân quý phái (các tầng lớp công nhân có trình độ cao như là những kẻ bị lợi nhuận tối đa mua chuộc và là cơ sở xã hội cho tổ chức cải lương của giai cấp tư sản trong lòng giai cấp vô sản, lý thuyết về cách mạng và nền chuyên chính chính trị, tất cả đó là sự thành hình của yếu tố không tưởng trong chủ nghĩa Mác dưới các điều kiện khủng hoảng ngày càng trầm trọng của nó trong bản thân phong trào công nhân. Những điều kiện tinh thần này của việc hủy hoại ý thức lịch sử đối với trí thức khoa học xã hội sẽ được thực hiện thông qua các cơ cấu thiết chế của chủ nghĩa xã hội hiện thực. Việc thiếu hiểu biết về toàn bộ quá trình khiến cho nhiều nhà lý luận đòi hỏi một cách thật thà rằng từ cái gọi là chủ nghĩa Stalin phải quay về với chủ nghĩa Lênin, từ chủ nghĩa Marx (bị biến tướng) trở về với chủ nghĩa Marx đích thực, có nghĩa là trong thực tế từ một không tưởng được thực hiện trở về với không tưởng còn ở dạng ý niệm, và làm lại tất cả từ đầu.

Những thay đổi căn bản của thực tại làm nảy sinh khủng hoảng ở những mối căng thẳng nội tại của lý luận xã hội mácxít khởi thủy đã đòi hỏi và tạo ra một sức ép thiết chế mà những nhà khoa học xã hội buộc phải đương đầu, một cách hân hoan lúc ban đầu, về sau thì hiếm hoi hơn và đầy tính chất buồn tẻ. Với sự thực hiện tưởng chừng thắng lợi của cương lĩnh mácxít-leninit – sự sửa chữa ảo ảnh này ngay từ đầu những năm ba mươi thông qua các quá trình băng hoại ở Liên Xô do những tương quan châu Âu mà đã chậm lại một quãng thời gian gần hai thế hệ – với sự thực hiện của triết học, sự phủ định đối với chính nó cũng diễn ra một cách bền bỉ. Như ở thế kỷ 16 các viện hàn lâm bác học tư nhân đã trở thành những hội nghề nghiệp dưới ánh sánh Augustanh của những nhà Mạnh Thường quân quan tâm, và chủ nghĩa nhân đạo bắt đầu trở nên lỗi thời thông qua thái độ thoả hiệp của chính nó, khoa học xã hội mácxít đã biến thành một thứ khuôn sáo và nhanh chóng tạo ra những kẻ mô phạm của mình. Ở CHDC Đức, điều này đã diễn ra sớm một cách kỳ lạ, ngay cả trước khi thành lập nước. Hans Leisegang ở Jena và Leo Kofler ở Halle bị tống khứ từ cuối những năm bốn mươi. Với sức mạnh tổng hợp của một quan niệm khoa học dân chủ đầy trách nhiệm như ở trường đại học tổng hợp Leipzig, các quá trình hủy hoại đã chậm lại cho tới cuối những năm năm mươi. Bây giờ thì sự sụp đổ gắn liền với những màn tiễn biệt đầy ồn ào với lý thuyết khoa học xã hội của Lucács. Nó gần như là một giai đoạn thứ hai của sự thối hoá các cơ quan tinh thần. Cả trong tư tưởng của Lucács, bước gãy khúc quyết định đã diễn ra với quá độ từ chủ nghĩa Mác lý luận sang chủ nghĩa Mác thắng lợi trong thực tiễn, điều mà ngay ở một sức mạnh tư duy tưởng chừng không thể hủy hoại của Georg Lucács – như Adorno từng có lần nói – cũng đã đẩy lùi ý thức lịch sử, hướng ông tới phần không tưởng được nảy sinh từ đó của một chủ nghĩa cổ điển có từ mối quan hệ trước kia với Paul Ernst, một thứ chủ nghĩa cổ điển với hệ tư tưởng chống suy đồi một cách hiếu chiến đã buộc phải thú nhận sự tàn lụi ý thức lịch sử của chính mình.

III.

Một nguyên lý tư biện thống soái lên toàn bộ triết học và khoa học xã hội trong thế giới của cái gọi là chủ nghĩa xã hội hiện thực. (Khái niệm này vốn là sự bộc lộ niềm đắc thắng cay độc của cứ liệu thực tiễn với sự phê phán xã hội chủ nghĩa mang tính tinh thần đối với chủ nghĩa xã hội nhà nước tuyệt đối và nền thống trị độc đảng). Nếu như thực tại – vốn vẫn bị ý niệm tư biện thường xuyên nhắc nhở phải tồn tại như một tư tưởng – bị tan rã, thì bỗng nhiên xuất hiện nhận thức là thực tại này đã chỉ tồn tại như một tư tưởng về thực tại. Phương pháp luận duy lý của khoa học xã hội đã bị bẻ gãy thông qua tương quan của nó với văn bản có sẵn.

Văn bản này gợi nên một tâm trạng cố hương tinh thần, tạo nên thái độ phục tùng tư tưởng xa lạ với khoa học, thay thế vào việc phân tích có phương pháp và sự lý giải mang tinh thần phê phán và duy lý cái tồn tại. Thay cho các tiêu chí lập luận và nhất trí trên cơ sở lôgich là tính cộng đồng duy cảm của những tín đồ. Điều đó tạo ra cho người trí thức cơ sở tâm lý để chấp nhận những sự điều khiển về nội dung đối với khoa học thông qua các thiết chế phi khoa học, và rốt cuộc là chờ đợi, bởi sự thống nhất mang tính hữu cơ đằng nào cũng sẽ được tri nhận trong một bóng tối thần bí vốn có sức toả sáng hơn là lý trí chia cắt. Sự ràng buộc tính hợp lý của khoa học với một bình diện tư tưởng khác đã chôn vùi những khả năng làm việc nội tại của nó mà không hề cần đến một sự cấm đoán nào.

Sự trấn áp của các thiết chế tác động thêm, và với một tinh hoa gần như bột phát của chủ nghĩa bình quân vốn là phần thực sự và duy nhất hoàn hảo của các chức năng hệ thống, sự trấn áp này theo năm tháng đối với đa số những người có liên quan có thể coi là hết sức bền bỉ, cho dù sự hiện diện của bạo lực không cần phải thường xuyên được nếm trải. Tuy nhiên sự trấn áp không tạo nên tiền đề cho thắng lợi, và nó không thể làm cho thắng lợi này trở nên trọn vẹn và lâu dài như thế trong nền văn hoá khoa học đang phát triển của thời đại chúng ta. Các cơ sở tâm lý xã hội của khoa học mácxít hiện thực với tư cách một chủng loại tinh thần bắt nguồn từ ý thức cộng đồng của một nền văn hoá tiền khoa học vốn dĩ thông qua sự sùng bái văn bản, một văn bản tuyệt đối, mà thâm nhập vào khoa học. Điều này không liên quan gì đến những ẩn dụ tôn giáo. Triết học và nhiều bộ môn khoa học xã hội – với tất cả những khác biệt giữa các chuyên ngành và giữa cả các cá nhân đại diện chúng – hoạt động với tư cách những khoa học biện hộ. Chúng tạo ra hệ tư tưởng, không chỉ trong nghĩa mà Marx dùng là ý thức sai trái một cách vô thức, mà là sự phản ánh đúng đắn về một thực trạng dường như lầm lẫn. Dù sao người ta cũng đã biết cách tự điều hành trên cơ sở những kết quả cho sẵn; và một khi ý thức trung thực bị đánh mất, mảnh đất màu mỡ của khoa học sẽ trở thành địa bàn cho những vụ hôi của. Cũng từ đó mà hình thành một thứ tâm lý quý phái của những trang cướp hiệp sĩ luôn tìm cách khoe khoang những kết qua cướp giật sống sượng từ các mảnh phác thảo lý luận rời rạc và tranh giành chúng một cách đầy ghen tị (…). Các chuyên ngành được quy về một văn bản mà chức năng phương pháp luận của nó đã bị tàn phá một cách hệ thống từ những năm hai mươi, văn bản mà giá như với hệ thống phương pháp duy lý của các khoa học tinh thần và xã hội cũng không thể nào thực hiện nổi chức năng đã được gán ghép cho nó. Tuy nhiên các văn bản kinh điển chỉ tạo nên cái khung cho sự lý giải tư biện về thực tại. Chúng hàm chứa quy luật. Theo nội dung khái niệm thì thực tại đã hoàn chỉnh và trở thành một tồn tại tinh thần trong lý luận. Nguyên lý tư biện này – các nhà mácxít cách mạng nhất của chủ nghĩa xã hội hiện thực trong thực tế là những môn đệ Hegel truyền thống – đã quy định tương quan giữa ý niệm và thực tại, một quan hệ mang tính cách bản thể luận. Không có gì xa lạ đối với siêu hình học hiện thực của chủ nghĩa xã hội thực tế bằng chủ nghĩa duy vật với tính ưu tiên thật sự của cái cụ thể đối với nguyên lý. Và không phải hơi thở của quyền lực, thói khoa trương cộng đồng đã làm tắt ngấm vẻ rực rỡ cảm tính của vật chất vốn sống động trong các khám phá tinh vi đến vô tận của khoa học tự nhiên. Bản thể học hiện thực thống soái các khoa học xã hội – những lời ca thán rằng triết học đã không giúp ích gì cho cái gọi là những ngành khoa học cụ thể do đó mà không bao giờ chấm dứt – đã phá hủy mối quan hệ giữa kinh nghiệm và lý thuyết trong các bộ môn khoa học xã hội. Quá trình cụ thể biến thành ví dụ, trở thành minh hoạ cho một tương quan được thiết lập bên ngoài khuynh hướng thực của nó. Việc tìm hiểu quá trình cụ thể đã bị loại bỏ ngay trên nguyên tắc. Thêm vào đó là sự cắt xén cố ý mang đầy tính định kiến. Một khi kinh nghiệm bị áp đặt thẳng thừng bởi một số ít nguyên lý tiên nghiệm, một hình ảnh tổng quát rõ rệt đầy sức lôi cuốn về thực tại sẽ xuất hiện, điều thực ra không thể nào đạt tới bằng các phương áp duy lý, và do vậy mà cũng xa lạ với khoa học. Các phương pháp lý luận và các bộ môn khoa học mới do lối thông tục hoá này mà cũng thường xuyên bị gạt ra rìa. Đương nhiên những bộ óc cẩn trọng hơn khổng thể chấp nhận một hệ phương pháp bản thể hoá đã có tự những thời xa xưa. Điều này dẫn tới việc thoá mạ triết học cũng như tất cả các bộ môn khoa học tinh thần và xã hội khác, và cướp đi từ nền văn hoá xã hội chủ nghĩa hiện thực phần tự ý thức điều hành duy lý của nó.

Nguyên lý bản thể luận của các khoa học xã hội nhằm thoả mãn cho nhu cầu nằm ở phía ngoài lý trí về một thứ quê hương tinh thần vốn dĩ đánh thức dậy những tình cảm đạo đức và đồng thời xoa dịu chúng. Điều đó dẫn tới một thái cực khác của nền móng siêu hình là chỗ dựa thực tế của nó. Tính chất tập trung hoá cao độ của hệ thống loại trừ các bình diện và các phân hệ thống đặc thù với những cấu trúc tinh thần riêng biệt trong việc biểu đạt các quá trình xã hội. Ý thức thực tiễn thường nhật chiếm vị trí thống soái. Cơ cấu của nó hình thành từ sự chia tách không trọn vẹn giữa khách thể và chủ thể tư duy. Chủ thể không kiến tạo các mô hình hợp lý được liên kết với nhau một cách phức hợp, mà ngụ lại ở bình diện cảm tính của thực tại. Toàn bộ trường ấn tượng không được lý giải ngăn cản sự phân biệt giữa tính mục đích luận của ý chí và sự định hướng, đánh giá nhân quả hợp lý đối với hiện thực. Chân trời thụ cảm thực tiễn thường nhật thiếu sự phân giải tuy nhiên chỉ có thể được thực hiện thông qua hệ thống tập trung. Nó phát sinh từ bình diện đạo lý và nhu cầu trực tiếp của ý thức vốn chỉ biết xử lý các khái niệm đối tượng có sẵn từ kinh nghiệm chưa được phân tích. Những phân giải tinh vi đối với thực tại chỉ có thể đạt tới thông qua các mô hình phương pháp của các hình thái duy lý khác nhau hiện lên như là một cái gì đó vô dụng đối với tư duy thực tiễn trực tiếp, cũng như việc Bacon đã bác bỏ cơ học và thiên văn học mới như là một thứ thông thái kinh viện thừa thãi. Ở đây hàm chứa nguồn gốc của thái độ thù địch kinh niên đối với khoa học trong bộ máy lãnh đạo chính trị của các xã hội xã hội chủ nghĩa hiện thực. Khái niệm dang dở về thực tại xuất phát từ nhu cầu trực tiếp và mang tính đạo đức đã làm nhân cách hoá hiện thực, cung cấp cho nó những nỗ lực mang tính hữu cơ và những giải pháp có mục đích, dường như có một chủ thể hoạt động đang vẫy gọi, tiến về phía chúng ta, song là một chủ thể khổng lồ, sáng tạo nên tất cả. Khái niệm đối tượng bị thu hẹp phù hợp với phạm trù thiếu phát triển trên phương diện văn hoá của chủ thể nhận thức. Chỉ còn có thể thấy chủ thể cảm tính riêng lẻ đang loay hoay với những mẩu vật liệu có sẵn của mình. Tính chất tổng hợp và đặc biệt phức tạp của nhận thức như là một quá trình giao tiếp xã hội không được ghi nhận. Điều này dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng đốỉ với tổ chức xã hội của khoa học – nếu như việc tổ chức đó được tiến hành trong một lối hình dung thông tục hoá. Cũng đầy tai hoạ như thế là thái độ đối xử với các nhà khoa học, những người buộc phải làm việc trong một môi trường xã hội không thể nào nắm bắt một cách cụ thể cảm tính, thế nhưng lại được coi như là các chủ thể kinh nghiệm không được phép xét lại những thắng lợi với tư cách trí thức phê phán. Tuy nhiên khái niệm khách thể thực tiễn thường nhật tản mác không chỉ giới hạn lại ở một cái gì đó nằm trước giác quan của một cá nhân. Cái vốn có thông qua kinh nghiệm chỉ dẫn tới những đồng đẳng giữa các quá trình cá nhân không thể nào phân giải. Tính nhân quả, khuynh hướng và sự biến đổi hệ thống chỉ có thể hình dung được thông qua sự phủ định khái niệm vật thể kinh nghiệm chủ nghĩa. Nếu như giác độ kinh nghiệm không được phân giải trong một màng lưới tinh vi bao gồm những mô hình hợp lý, trường hợp ngược lại của tồn tại dưới dạng thuần túy cứ liệu sẽ xảy ra, có nghĩa là tồn tại ý niệm, sự áp đặt tư biện của tồn tại cảm quan lên một cấp độ thứ hai. Đó là những bản thể siêu hình. Chủ nghĩa kinh nghiệm thô thiển trở thành siêu hình học. Với khởi điểm giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, ý thức nhu cầu trực tiếp của cách mạng và xã hội cộng sản sẽ tác động ngày một mạnh mẽ hơn. Điều đó làm xói mòn, và rốt cuộc triệt phá mạch lý luận thuần túy trong tác phẩm của Marx. Các luận điểm lý luận phổ biến vủa chủ nghĩa Mác được chắp nối lại với nhau trong một thứ siêu hình học hiện thực. Dưới hình thức đó, về mặt nguyên tắc đương nhiên chúng đã trở thành một yếu tố có chức năng hủy hoại đối với các ngành khoa học xã hội, không phụ thuộc vào những sức ép chính trị cụ thể được thực hiện qua mối tương quan chung.

Kể cả chủ thể cũng bị ý thức thực tiễn thường nhật khoanh vùng lại trong sự tồn tại trực tiếp của mình. Nếu như nó muốn vươn lên thành một chủ thể xã hội trong môi trường văn hoá và quá trình lịch sử, thì nó cũng chỉ tự khẳng định sự tồn tại trực tiếp của mình thêm một lần nữa. Nó trở thành “cộng đồng”, trở thành “quần chúng”, như một hình thức bề ngoài mà xã hội phải tạo ra cho mình, ví như một người nào đó thì cần phải có một đôi giày có hình thù nhất định vậy. Cá nhân riêng lẻ tự khẳng định mình một lần nữa với tư cách “đồng chí”, qua đó mà cơ cấu xã hội khách quan của phạm vi hành động được cung cấp một hình thức cảm tính. Phát sinh từ đó là là một phong cách đạo đức đầy tính điệu bộ trong tất cá những cách đặt vấn đề xã hội học. Cá tính cảm quan muốn nghiệm trải sự xã hội hoá của mình, vượt qua giới hạn trực tiếp của bản thân để trở thành chủ thể xã hội. Tính cảm quan của một cái gì đó không thể trực tiếp cảm nhận được làm xuất hiện cả một hệ thống thần bí hoá sẽ trở nên bịt bùng ở tất cả những nơi mà bề dày từng trải của cá nhân buộc phải lép vế. Tình chất thần bí của chủ thể lịch sử được hình dung theo phương thức hữu cơ cần đến sự cưỡng chế và tạo ra sự cưỡng chế này. Các cá nhân riêng lẻ – ở đây chỉ bàn đến trí thức khoa học xã hội – bị áp đặt bởi những đòi hỏi hoàn toàn xa lạ với khoa học vê đức trung thành, lòng biết ơn (việc học hành nghiên cứu do nhân dân đài thọ, vị trí giảng dạy do Đảng sắp xếp và đảm bảo v.v.), và trước hết là bị ràng buộc trong một quan hệ mang tính chất phục dịch đối với thực tiễn. Khái niệm thực tiễn tuy nhiên lại chỉ là nội dung của một ý thức thực dụng thường nhật tiền khoa học thống soái trên bình diện chính trị. Càng tiệm cận với cơ cấu của chủ thể văn hoá, cho dù với ý nguyện tốt đẹp nhất, nhà khoa học xã hội càng tự đánh mất mọi suy tư về bản thân với tư cách là nhà lý luận. Hoạt động tự điều chỉnh của nhà tư tưởng ngược lại tạo nên một khía cạnh kinh nghiệm khác hẳn với tương quan phổ biến. Kết quả nảy sinh từ đó là: Các bình diện chuyển hoá tinh vi của chủ thể cá nhân cũng như chủ thể xã hội với quan hệ của thế giới vật thể có được từ kinh nghiệm và sự chuyển hoá các mối tương quan đã bị bái vật hoá trọn vẹn. Phù hợp với sự thần bí hoá chủ thể mang tính đạo đức và điệu bộ là tính siêu hình của quy luật. Văn bản như vâỵ sẽ trở thành tín điều, tri thức trở thành đạo luật, và tư duy chỉ còn sản sinh một logich tượng trưng, bởi nó chỉ còn tiếp nhận đối tượng của mình dưới những dạng thức phi lý tính.

IV.

Những vấn đề chung vừa được tóm lược ở trên của khoa học xã hội trong chủ nghĩa xã hội hiện thực bắt nguồn từ cơ cấu văn hóa, hay – nếu như người ta có thể nói như vậy – từ tâm lý của phong trào xã hội chủ nghĩa cách mạng, và do đó mà cũng có thể nhận chân ngay từ tư tưởng của Marx. Vị trí đặc thù của Marx trong lịch sử triết học và lý luận xã hội châu Âu được quy định bởi thể nghiệm nhằm dung hoà giữa hai mạch tư tưởng căn bản nhất có trước đó. Mạch thứ nhất bao hàm việc xây dựng lực lượng sản xuất tinh thần và vật chất của sức lao động con người. Nó xuất phát vào cuối thế kỷ 18 từ nguyên lý hoàn thiện không ngừng cùa tri thức, của các ngành công nghiệp, của hiến pháp, pháp luật, của giáo dục, và có chức năng cải biến ngoại vật, kể cả đối với tự nhiên bên ngoài cũng như thiên tính bên trong của con người luôn phát triển theo những hệ thống xã hội thường xuyên trở nên hoàn chỉnh hơn của luật pháp, của nền sản xuất vật chất v.v. Đối ngược lại các quan niệm văn hoá loại này là mạch tư tưởng lấy con người cảm tính làm trung tâm, soi rọi những mặt trái đau khổ của tiến bộ xã hội và hướng tới việc cải tạo các hệ thống và mối ràng buộc khách quan đè nặng lên chúng sinh theo những đòi hỏi giản dị của tinh thần bình đẳng và bác ái. Khuynh hướng này bắt nguồn ngay từ các phong trào thần bí mang tính chất bình dân ở thời kỳ trung cổ và tiền hiện đại. Nó ngày càng nhấn mạnh bình diện xúc cảm trong chủ thể như là điều kiện tiên quyết của một công cuộc xã hội hoá tốt đẹp, có nghĩa là lấy Pascal chống lại Descartes, Rousseau chống lại Voltaire, và vào thế kỷ 19 là chủ nghĩa xã hội của Fourier và Owen chống lại cơ chế thị trường và chế độ tư hữu. Ở đoạn phân tích về Hodgskin trong “các lý thuyết về giá trị thặng dư”, Marx đã viết rằng những người xã hội chủ nghĩa “đặt trọng tâm vào chủ thể, hay có thể nói là vào tính chủ quan trong chủ thể, đối ngược lại với khách thể”. Cũng liên quan đến mạch tư tưởng này là các lý luận về xã hội hiện đại như là một thời kỳ phát triển của chủ thể thông qua sự đối tượng hoá đến mức độ tha hoá của nó.

Mục đích thực sự của học thuyết Mác là đem đến bằng chứng rằng sự hoàn thiện không ngừng lực lượng sản xuất của lao động (không chỉ các hình thái nhận thức) sẽ dẫn các hệ thông xã hội thường xuyên hoạt động hoàn hảo hơn và ngày càng mang tính độc lập hóa cao độ tới một sự biến đổi cơ cấu, thông qua đó mà quay về với chủ thể trong các mối tương quan bình đẳng va bác ái. Xã hội được cụ thể hóa với tư cách một cộng đồng cảm quan. Marx đã tư duy tổng hợp hai mạch luận chứng rất khác nhau, một đằng mang tính nhân quả – hợp lý, một đằng mang tính đạo đức – hiệu triệu. Một đặc tính cố hữu của chủ nghĩa Mác là sự tổng hợp này sẽ rơi vào khủng hoảng của sự kiểm chứng lịch sử một khi nó được ứng dụng trong thực tiễn. Cái gọi là chủ nghĩa Lenin là sự đẩy lệch tổng hợp ý niệm của Marx sang yếu tố cộng đồng vô điều kiện, với mọi hậu quả của nó trong tương quan với các hệ thống chuyển hóa tinh vi của xã hội ở thế kỷ 20. Thuộc vào đó là việc xóa bỏ tư hữu trong công nghiệp đã kéo theo tác động làm sụp đổ các hệ thống điều tiết của hành động xã hội khách quan như luật pháp và quy luật giá trị. Thuộc vào đó là là ý niệm về nền dân chủ trực tiếp với tư cách là nên chuyên chính của nhân dân triệu lần dân chủ hơn so với chế độ cộng hòa dân chủ – tư sản tốt đẹp nhất và những luận điểm tương tự khác. Đúng là tư tưởng của Lenin đã tiếp thu phần tự ý thức thực sự của Marx, trong khi đó nhà lý luận điển hình cùng thời khác là Kautsky lại gạt bỏ nó. Bản thân Marx coi cốt lõi của hành động cách mạng là ở chỗ giai cấp vô sản dần dần “tước đoạt” các tư liệu sản xuất của giai cấp tư sản, như “Tuyên ngôn” năm 1848 đã nêu ra và như bản phê phán cương lĩnh vào năm 1875 đã khẳng định lại. Đồng thời Marx lại đem đến một sự dung hòa cho tư tưởng của mình thông qua việc quan niệm quá trình thay đổi hình thái cách mạng thực tế như một giai đoạn lớn của lịch sử văn minh kéo dài từ một đến hai thế kỷ, với các tiến bộ và thoái bộ, một quá trình lâu dài và đầy chông gai như ông nói. Dĩ nhiên diễn biến thực tế của khởi điểm cách mạng đã được Marx hình dung hoàn toàn theo khuôn mẫu của Cách mạng Pháp mà ông đã dày công nghiên cứu từ các biên bản nghị viện vào thời kỳ ông sống ở Paris năm 1844. Marx đánh giá cuộc cách mạng như một quá trình liên tục từ 1789 đến khi xuất hiện khả năng lựa chọn giữa Napoleon và Babeuf. Nếu như vào năm 1789 nền chấp chính của giai cấp đại tư sản đã thắng thế thì với một trình độ sản xuất cao của tư bản, chiến thắng nhất định sẽ thuộc về giai cấp vô sản, giai cấp do chính tư bản sản sinh và tập hợp lại.

Việc gắn liền toàn bộ vấn đề giải phóng của xã hội hiện đại tư sản từ thế kỷ 19 với cương lĩnh của phái cộng sản – bình dân hình thành vào giai đoạn cuối của Cách mạng Pháp và đường lối tư tưởng đảng và cách mạng của Blanquis đã đặt tư duy tiến hóa luận – nhân quả của Marx vào truyền thống của ý niệm cộng đồng trên căn bản mang tính không tưởng tiền hiện đại. Thông qua đó và dường như được phong trào vô sản thực tế của thế kỷ 19 xác nhận, yếu tố đạo lý đã xâm nhập vào chủ nghĩa Mác như một tiêu chí chính trị và xã hội trọng yếu. Song song từ các nguồn gốc lý luận của Marx và từ trào lưu xã hội chủ nghĩa đã hình thành nên sự bất đồng đều lịch sử đặc thù tạo ra sức cuốn hút của phong trao vô sản mácxít (sự hoà quyện giữa các đối cực tiến bộ vật chất và hành động giải phóng bừng cháy của trái tim anh hùng), cái trên thực tế chính là căn nguyên khủng hoảng phổ biến của phong trào này và lý luận của nó. Tính chất bất đồng đêu nội tại này cũng đã dẫn tới sự suy tàn, và rốt cuộc là sự sụp đổ toàn diện trong hiện tại của các xã hội xã hội chủ nghĩa hiện thực.

Khái niệm bình đẳng cộng sản chủ nghĩa – đương nhiên được tuyên cáo như là quan niệm duy nhất đoạn tuyệt triệt để với nền văn minh tư sản – bắt nguồn từ một loạt những nguyên lý tiền hiện đại chẳng hạn đã được tổng kết theo phương pháp giáo khoa thư trong tác phẩm của Bunarroti về chủ nghĩa Babeuf. Quá trình xã hội hóa được tiến hành trên cơ sở tình cảm của tinh thần tương trợ và lòng cảm thông, bởi chưng “sự cân bằng của cải có nguồn gốc trong sự bình đẳng giữa các giác quan và nhu cầu của chúng ta”. Khái niệm cộng đồng tiền tư sản như vậy được coi như là mô hình xã hội cần vươn tới. “Nếu như các gia đình là những mô hình đầu tiên của xã hội thì chúng là bằng chứng hùng hồn nhất cho quyền bình đẳng đã được đề cập đến. Ở đó quan hệ bình đẳng là cơ sơ đảm bảo cho tính dịu dàng của những người cha, sự hoà thuận và hạnh phúc của nhũng đứa con”. Trong các lý luận của Marx về quan hệ giữa Đảng tiên phong và quần chúng vô sản, về hạt nhân lãnh đạo tư tưởng của Đảng v.v., hệ tư tưởng tiền hiện đại này đẫ được tiếp diễn và thăng hoa thành những sơ đồ thuần lý. Vấn đề quyết định là mối liên kết và tính năng động của xã hội phi tư sản được hình dung từ các xuất phát điểm hiện đại. Của cải vật chất sẽ đầy ắp một khi mỗi người đều lao động, thậm chí chỉ phải lao động ít hơn, song trước hết là bởi vì “cảm giác hạnh phúc, tình yêu tổ quốc, quan hệ bình đẳng và một phương thức chính trị thông thái sẽ làm nên những điều kỳ diệu trong trái tim con người” (Bunarroti, “Cuộc nổi loạn vì bình đẳng”, 1828). Babeuf cũng đặt ra vấn đề: “Điều gì sẽ xảy ra với các thành quả của sự khéo léo, việc tiết kiệm thời gian và tinh thần sáng chế?”. Sự trỗi dậy trên phương diện đạo đức của con người sau khi xóa bỏ chế độ tư hữu sẽ làm phục hưng một thứ tình yêu Helvetius mới, và bởi chỉ những khát vọng tự nhiên, chứ không phải các nhu cầu xa xỉ cần được thỏa mãn, “lao động của những người liên hội” (một khái niệm của Babeuf được Marx dùng lại ở “Tư bản”) với một hao phí thời gian thấp hơn trong tương lai sẽ tạo nên nhiều của cải hơn là dưới quan hệ tư bản.

Marx không kế thừa truyền thống này một cách trực diện. Ông khẳng định, như ông diễn tả, “sứ mạng văn minh của tư bản”, ông đánh giá khoa học như một lực lượng sản xuất, thông qua đó mà sức lao động trực tiếp tách khỏi cơ chế sản xuất với tư cách một thế lực điều khiển trí tuệ và giao tiếp. Tuy nhiên trong tương quan với các chủ thể xã hội mà hình thái xã hội mới đã giải tỏa, với giai cấp vô sản và các hình thức hoạt động của nó, trong tương quan với các giai đoạn biến đổi từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội, giai đoạn chuyên chính vô sản, những yếu tố chính trị – đạo đức khởi thủy của lý thuyết xã hội cộng sản đã thâm nhập vào học thuyết của Marx. Trong trường hợp đem ra ứng dụng chúng sẽ chẳng thể sản sinh một cái gì hơn là “chủ nghĩa xã hội hiện thực”. Tính chất mâu thuẫn ở tư duy của Marx là biểu hiện của sự bất đồng đều thời gian trong cùng một giai đoạn phát triển của nền văn minh hiện đại. Ở các xã hội xã hội chủ nghĩa hiện thực, tính bất đồng đều thời gian giữa các yếu tố chênh lệch thuộc về những trào lưu và giai đoạn khác nhau trong ý thức tiến bộ và giải phóng châu Âu đã được triển khai trên những điểm trọng yếu. Trong tương quan này trước hết phải lưu ý tới việc hủy bỏ cơ chế pháp định trong các hoạt động điều tiết xã hội. (Điều này bắt nguồn từ nguyên lý tiền hiện đại mà theo đó cả cộng đồng và thần dân đều cùng tuân thủ một nguyên tắc đạo đức, chưa hề liên quan tới các vấn đề như đặc quyền, sự lạm dụng quyền lực, tệ tham nhũng). Trong một ý nghĩa gián tiếp hơn, tính bất đồng đều thời gian này bộc lộ ở các khuynh hướng phong kiến hóa sức lao động, làm khánh kiệt tiềm năng ở mọi lĩnh vực đời sống, kể cả trên bình diện đạo đức của “liên hội những người sản xuất tự do”. Gốc rễ thật sự của xã hội mới, yêu sách mang tính cách đạo đức về tự do thông qua việc thiết lập sự bình đẳng, chứ không phải là sự đòi hỏi quyền bình đẳng tư sản thông qua tự do cá nhân, đã bị triệt tiêu ngay từ trước lúc thực hiện. Và như vậy từ một giai đoạn khủng hoảng nhất định, việc định hướng theo những chuẩn mực pháp quy của nên văn minh tư sản đã hiện lên như một tiến bộ thật sự, bởi những phần căn bản trong quan niệm xã hội và cơ cấu tồn tại dưới dạng vẻ phát triển hậu tư sản sự thật ra chỉ là biểu hiện của quan niệm tiền hiện đại về công cuộc giải phóng. Đây chính là nơi đến của không tưởng trong hiện tại. Thật bi kịch là giới trí thức đối lập, vốn có công đưa đến tiến bộ trong việc thiết lập cơ chế pháp định và nền dân chủ “tư sản”, khi bản thân tiến bộ này xuất hiện thì lại khinh bạc coi nó như một sự tụt lùi lịch sử, và như vậy đã nhầm lẫn về con đường và ý nghĩa của cuộc cách mạng do chính họ khởi phát.

Tính bất đồng đều thời gian có ý nghĩa nguyên tắc trong bản thân hình thái xã hội xã hội chủ nghĩa hiện thực – chứ không phải sự hăm dọa của thế giới tư sản cứ tồn tại dai dẳng một cách đáng ngạc nhiên – dẫn tới sự thiếu ăn khớp giữa tất cả các lĩnh vực đời sống quan trọng của xã hội này: Các nghành khoa học – Quá trình trao đổi chất của xã hội – Chuẩn mực pháp lý – Chính trị. Sự khoa trương lý luận đầy ảo tưởng đối ngược với các quá trình thực tế đang diễn ra. Người ta vẫn nói rằng chủ nghĩa xã hội đã xuất hiện quá sớm trong một thế giới còn do tư bản chiếm ngự. Thế nhưng điều ngược lại mới đúng. Chủ nghĩa xã hội đã thử thực hiện một không tưởng từ đầu thế kỷ 19 trong một nền văn minh phát triển cao. Yếu tố chậm chễ này cùng với những phương châm và thành quả mà hiện tại không còn để tâm đến nữa được thể hiện trong các biện pháp kinh tế và chính sách xã hội thiện chí song vô vọng của CHDC Đức. Sự không ăn khớp giữa các lĩnh vực xã hội làm méo mó chức năng và vị trí của mỗi một lĩnh vực này đối với lĩnh vực kia. Trong các ngành khoa học thì khoa học xã hội đã buộc phải nếm trải điều này một cách cao độ. Các xu hướng phong kiến hóa sức lao động diễn ra ỏ đây một cách hiển nhiên. Tình bất đồng đều thời gian và sự không ăn khớp lẫn nhau (chẳng hạn như chính trị và luật pháp hoạt động ở một giai đoạn lịch sử khác so với kỹ thuật và cơ cấu xã hội) đã tác động đặc biệt bất lợi đối với khoa học. Thông qua việc ưu tiên cho những động cơ cộng sản chủ nghĩa thô thiển hóa, xã hội xã hội chủ nghĩa hiện thực đã tách rời sức lao động của con người khỏi sự phát triển bùng nổ của khoa học. Xã hội này thất bại bởi đã không thể hòa nhập được với việc xây dựng những hình thái duy lý tự trị và sáng tạo.

Từ sự bất đồng đều thời gian giữa các yếu tố cơ cấu của xã hội mà hình thành nên nhiều đặc thù của thế giới xã hội chủ nghĩa hiện thực. Cơ sở xuất phát của chúng trước hết là những yếu tố tiền hiện đại, và thông qua sự cọ xát giữa các bộ phận không ăn khớp với nhau, cái tĩnh đã áp đảo cái động trong hình thái văn minh này. Gắn liền với bản chất tĩnh của thực tại là thói khoa trương tư tưởng về tiến bộ lịch sử như là một tâm thái hy vọng về tương lai, dường như người ta không sống trong thực tại mà chỉ có thể sống trong tính lý tưởng của sự sùng bái đạo lý được vẽ lên như một thứ viễn cảnh. Mối cưỡng chế này dẫn đến chủ nghĩa hiện thực của trí tưởng tượng thông qua việc phân lìa giữa yếu tố thực tiễn và tinh thần của xã hội, sự phân lìa trong mỗi một kinh nghiệm sống. Trí tưởng tượng thăng hoa qua tính duy lý biểu tượng của khoa học xã hội đóng một vai trò trọng yếu cho bản thân khoa học này. Chủ nghĩa hiện thực của trí tưởng tượng thể hiện trong sự cắt chia giữa văn bản và hoạt động phân tích, giữa tính chất siêu hình của xã hội mới và sự tái lập mang tính phê phán – logich của nó thông qua các bộ môn khoa học chuyên ngành. Đó là chiến thắng của trạng thái đối với quá trình. Tính cộng đồng tiền hiện đại bị áp đặt thành một thứ quan hệ bình quân, có nghĩa là sự bất bình đẳng ở dạng thô bỉ nhất. Sự khuynh loát của ý thức thường nhật thiếu năng lực lý giải trong việc xây dựng các thiết chế xã hội đã biến nó từ một yếu tố khủng hoảng tiềm tàng của xã hội trở thành công cụ thống trị hiếu chiến đầy tai hoạ mà nội dung tinh thần cũng như các biểu hiện ngôn từ đã vượt sang ranh giới của lĩnh vực phiêu lưu. Nơi đến của không tưởng là sự bất đồng đều thời gian tuyệt đối nhằm bỏ qua xã hội hiện đại bằng những hình thái sống tiền hiện đại.

Trương Hồng Quang dịch từ nguyên bản tiếng Đức 

VIETNAMESISCHE VERTRAGSARBEITER_INNEN DER DDR SEIT DER DEUTSCHEN WIEDERVEREINIGUNG

🇩🇪 VIETNAMESISCHE VERTRAGSARBEITER_INNEN DER DDR SEIT DER DEUTSCHEN WIEDERVEREINIGUNG – Gespräch mit Frau Prof. Dr. Karin Weiss, ehemalige Intergrationsbeauftragte des Landes Brandenburg 

Interviewreihe zur Geschichte der vietnamesischen Migration nach Deutschland (#04) 

Aus den Inhalten des Gespräches:

00:00 Begrüßung und Vorstellung des Gastes

03:19 Erfahrungen als Sozialarbeiterin in Haifa und Doktorandin an der Universität Tel Aviv und Forschungsarbeiten an der Fachhochschule Potsdam

07:36 Exkurs über die Unterschiede der Arbeitsmigration in der alten Bundesrepublik und der ehemaligen DDR

16:33 Rechtlicher Status und wirtschaftlich-soziale Situation der DDR-Vertragsarbeiter vor und nach der Wende

27:23 Bemühungen um das Bleiberecht für die DDR-Vertragsarbeiter, u.a. über die besonderen Verdienste von Frau Almuth Berger, der ehemaligen Ausländerbeauftragten der DDR und später des Landes Brandenburg 

29:00 Zur Alltagsgeschichte der vietnamesischen Vertragsarbeiter seit der deutschen Einheit 

53:07 Zur heutigen Situation der vietnamesischen Vertragsarbeiter

57:10 Über die 2. Generation und die Perspektive der vietnamesischen Community in Deutschland  

LEBEN MIT CORONA – PODCAST AUF VIETNAMESISCH AUS BERLIN
FOLGE 19, SONNTAG 04.10.2020
Fragesteller: Trương Hồng Quang

🇻🇳 CÔNG NHÂN HIỆP ĐỊNH VIỆT NAM THỜI CHDC ĐỨC TỪ KHI NƯỚC ĐỨC THỐNG NHẤT – Trò chuyện với GS. TS. Karin Weiss, nguyên Đặc phái viên Hội nhập Bang Brandenburg

Chuỗi phỏng vấn về lịch sử di dân của cộng đồng Việt Nam ở Đức (#04)

Các nội dung chính của buổi trò chuyện:

00:00 Giới thiệu về khách mời của chương trình

03:19 Các trải nghiệm công tác xã hội tại Haifa và thời gian nghiên cứu sinh Tiến sỹ tại Đại học Tel Aviv, hoạt động nghiên cứu tại Đại học Potsdam

07:36 Khác biệt và tương đồng trong chính sách nhập cư lao động giữa CHLB Đức cũ và CHDC Đức

16:33 Tình trạng pháp lý và hoàn cảnh kinh tế – xã hội của công nhận hiệp định Việt Nam trước và sau khi nước Đức thống nhất

27:23 Các nỗ lực dành quyền cư trú cho công nhân hiệp định CHDC Đức, các đóng góp đặc biệt của bà Almuth Berger, nguyên Phái viên Ngoại kiều của CHDC Đức và về sau của Bang Brandenburg

29:00 Đời sống của công nhân hiệp định Việt Nam từ khi nước Đức thống nhất 

53:07 Tình hình hiện nay của công nhân hiệp định Việt Nam đang sinh sống ở Đức

57:10 Thế hệ thứ hai và tương lai của cộng đồng Việt Nam ở Đức 

SỐNG CHUNG VỚI CORONA – PODCAST TIẾNG VIỆT TỪ BERLIN
KỲ 19, CHỦ NHẬT 04.10.2020
Người đặt câu hỏi: Trương Hồng Quang

Jürgen Habermas, 30 năm sau: Cơ hội thứ hai – Bước ngoặt trong chính sách châu Âu của Merkel và quá trình thống nhất nước Đức

Jürgen Habermas trong lần giảng bài tại Đại học Frankfurt vào ngày 19.6.2019, một ngày sau khi ông tròn 90 tuổi (Ảnh chụp từ màn hình: THQ)

Trước thềm kỷ niệm 30 năm ngày thống nhất nước Đức, Jürgen Habermas, triết gia Đức quan trọng nhất hiện còn sống, người được mệnh danh là “Hegel của CHLB Đức”, đã cho công bố bài viết có tiêu đề như trên ở tờ nguyệt san “Blätter für deutsche und internationale Politik” (“Tạp chí Chính trị Đức và Quốc tế”), số 09/2020. 

Bài viết dài 16 trang in của nhà triết học năm nay đã 91 tuổi đưa ra một đánh giá tổng quan về quá trình thống nhất nước Đức trong 30 năm qua (1990-2020) từ giác độ của cuộc khủng hoảng hiện tại do đại dịch Covid-19 mang lại và từ cột mốc của diễn biến chính trị gần đây nhất mà ông gọi là “bước ngoặt trong chính sách châu Âu” của Thủ tướng Đức Angela Merkel.

Những ai theo dõi các bài phân tích và bình luận chính trị của Habermas trong khoảng hơn mười năm trở lại đây – kể từ giai đoạn khủng hoảng tài chính và ngân hàng khởi đầu vào năm 2007 – đều biết rõ về quan điểm phê phán của tác giả đối với chính sách thắt chặt tài khoá của chính phủ Đức mà đại diện tiêu biểu là Thủ tướng Merkel và cựu Bộ trưởng Tài chính Wolfgang Schäuble, đặc biệt được thể hiện trong thái độ cứng rắn đối với các quốc gia “con nợ” của vùng phía Nam EU.

Việc “chỉ qua một đêm” Thủ tướng Đức đã quyết định bắt tay hợp tác với Tổng thống Pháp Macron và thông qua thoả hiệp lịch sử tại Hội nghị Thương định mới đây của EU về việc đưa ra các gói cứu trợ chung, theo Habermas, đã mở ra một triển vọng mới cho Liên minh châu Âu vốn đang tiềm tàng nguy cơ sụp đổ.

Một trong những điều kiện để có được bước đột phá quan trọng nhất này trong quá trình hội nhập EU kể từ mốc Hiệp ước Maastricht chính là sự ly khai của Vương quốc Anh. Tuy nhiên nguyên nhân thực sự, điều bí ẩn nằm đằng sau quyết định thay đổi chính sách triệt để của Merkel, theo phân tích của bài viết, lại có liên quan sâu xa đến quá trình thống nhất nước Đức trong 30 năm qua và các hệ luỵ của nó.      

Có lẽ một trong những ý tưởng gây “sốc” nhất của tác giả, đặc biệt vào đúng dịp lễ lớn đang diễn ra, là nhận định của Habermas cho rằng việc thống nhất giữa hai nhà nước Đức đã dựa trên một tiền đề hiến pháp sai lầm, tức là điều 23 của Bộ luật cơ bản (Grundgesetz). Điều 23 này sở dĩ được đưa ra trong Luật cơ bản của CHLB Đức (cũ) là để làm tiền đề cho việc sát nhập trở lại của Bang Saarland mới tách rời khỏi Đức 4 năm trước đó mà trên căn bản cùng chung định chế chính trị, kinh tế với các Bang Tây Đức còn lại. Việc sát nhập (Beitritt) nước CHDC Đức hơn bốn thập kỷ sau đó vào thể chế hiện hành CHLB Đức đã tước đi cơ hội lịch sử để hai miền nước Đức có thể cùng kiến tạo một Hiến pháp chung, khởi đầu cho một ý thức chính trị bền vững về một sự thống nhất quốc gia tự nguyện.     

Sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, bóng ma của nguy cơ tái xuất của một thứ “Vương quốc Đức” ở giữa trung tâm lục địa, tức một “cường quốc tầm trung” (Mittelmacht) có từ thời Hoàng đế Wilhelm Đệ Nhị – quá lớn để đảm bảo một tiến trình hội nhập hoà bình và quá bé để có thể trở thành một thế lực bá chủ – đã khiến cho các nước láng giềng châu Âu phải lo ngại. Thủ tướng Đức Helmut Kohl lúc đó – trên phương diện sách lược đối ngoại – đã “mua” sự tái thống nhất của nhà nước dân tộc Đức bằng quyết định từ bỏ đồng tiền D-Mark và đặt tương lai của nước Đức thống nhất trong khối thịnh vượng chung EU và đồng tiền Euro. Hay nói một cách khác, Hiệp ước Maastricht (1992) như một nền tảng của quá trình hội nhập châu Âu cũng chính là hệ quả và đồng thời là điều kiện của việc thống nhất hai miền Đông và Tây Đức. 

Tuy nhiên quá trình thống nhất nội tại của hai nhà nước Đức ở các giai đoạn tiếp theo đã không nhất thiết tạo ra hiệu ứng tích cực đối với mục tiêu hội nhập của châu Âu.   

Trong bài viết Habermas dành phần lớn dung lượng cho việc soi chiếu hai con đường phát triển khác nhau của hai nhà nước Đức từ sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ 2 cho đến thời điểm thống nhất, và đặc biệt tập trung vào phân tích quá trình thống nhất diễn ra trên thực tế từ năm 1990 cho đến nay. Khuôn khổ của một bài lược thuật không cho phép đi sâu vào các phân tích của tác giả về những cột mốc khác nhau trong lịch sử của nước CHLB Đức cũ, từ chính sách hướng Tây và đồng thời phục hồi vai trò của các tầng lớp tinh hoa Đức Quốc Xã trên hầu hết mọi vị trí quyết định của bộ máy chính trị, tư pháp, an ninh vào thời Thủ tướng Konrad Adenauer, qua phong trào phản kháng 68 đến chính sách đối thoại với khối Đông Âu từ thời Thủ tướng Willi Brandt v.v. cũng như về lịch sử đặc thù của CHDC Đức xuyên suốt thời kỳ chiến tranh lạnh và đối đầu hệ thống. 

Điểm khác biệt giữa hai miền Đông và Tây Đức trong tương quan với di sản Đức Quốc Xã là ở CHLB Đức cũ, với vai trò quyết định của xã hội dân sự, trải qua rất nhiều xung đột đã từng bước hình thành một công luận độc lập với định hướng tới các giá trị dân chủ và nhà nước pháp quyền, trong lúc ở CHDC Đức, mặc dù có một hệ tư tưởng chống phát xít được áp đặt từ trên xuống, đã không tồn tại một công luận chính trị cho phép các luồng quan điểm chà xát với nhau để đi tới đồng thuận. Quá trình thống nhất giữa hai nhà nước Đức đã không dẫn tới hệ quả hình thành một công luận mới ở khu vực Đông Đức trước đây, mà ngược lại người dân ở đó đã bị „tước đoạt“ các thiết chế truyền thông của mình thông qua việc hầu hết các tờ báo, đài phát thanh, truyền hình đã được các nhà đầu tư từ Tây Đức mua lại và đặt giới quyền của các Tổng biên tập từ Tây Đức. Đi tiếp một bước nữa, truyền thông Tây Đức tập trung vào việc hạ bệ các nhà văn và trí thức Đông Đức mà tác phẩm của họ là kết tinh các trải nghiệm đời sống hàng ngày của người dân Đông Đức cho đến thời điểm đó. Stefan Heym, Christa Wolf, Heiner Müller v.v. – những tên tuổi trước đây còn được tung hô ở CHLB Đức cũ, nay bị coi là những kẻ đồng lõa và tay sai của hệ thống an ninh Stasi. Hệ quả là, như ý kiến gần đây của Klaus Wolfram, một trong những lãnh tụ của phong trào phản kháng „Neues Forum“ (Diễn đàn mới) thời CHDC Đức được Habermas trích dẫn là „đối thoại trên phạm vi xã hội, ý thức chính trị, ký ức xã hội, tất cả những khả năng để đạt tới một sự đồng thuận xã hội mà đông đảo người dân vừa giành được đã bị thay thế bởi việc phế truất quyền dân sự và thói dạy dỗ kẻ cả.“    

Tất cả các chi tiết như vậy là những tấm khảm tạo nên bức tranh về sự trỗi dậy của AfD („Giải pháp cho nước Đức“) trên chính trường Đức, song song với các vụ khủng bố phát xít và phong trào bài xích người nước ngoài, phân biệt chủng tộc, đặc biệt diễn ra trên khu vực Đông Đức. Trong tương quan này, Habermas nhận định với AfD lần đầu tiên trong lịch sử CHLB Đức ở phía hữu của Union (tức hai Đảng CDU – Liên minh Dân chủ Thiên chúa giáo – và CSU – Liên minh Xã hội Thiên chúa giáo) một đảng phái chính trị với chủ nghĩa dân tộc cực đoan và tinh thần phân biệt chủng tộc đã tự khẳng định, như một hệ quả bùng phát của các mâu thuẫn không được giải tỏa trong quá trình thống nhất của hai nhà nước Đức.  

Tuy nhiên cái mới và có thể nói là „thông điệp lạc quan“ của Jürgen Habermas trong bài tiểu luận này là đánh giá của ông cho rằng giới cầm quyền hiện tại của CHLB Đức, trước hết là cá nhân Thủ tướng Merkel, đã nhận diện rõ mối nguy cơ này. Trên phương diện đối nội, điều này thể hiện qua thái độ kiên quyết với AfD sau sự kiện khủng hoảng chính trị tại Nghị viện Bang Thüringen vào đầu năm nay ở Erfurt. Thay vào xu hướng tranh thủ những „người dân lo âu“ và cử tri của AfD như từ trước tới nay, các đảng cầm quyền bảo thủ CDU/CSU đã chính thức công nhận sự tồn tại của một chính đảng tồn tại ở cánh hữu của mình và đấu tranh, phê phán nó không khoan nhượng trong phạm vi của thể chế dân chủ. Trên phương diện chính sách châu Âu đấy là bước ngoặt có tính chất „hệ hình“, thúc đẩy tiến trình hội nhập châu Âu một cách toàn diện, và không chỉ theo đuổi một đường lối dân tộc chủ nghĩa về kinh tế dưới vỏ bọc mang tính từ chương của các phát ngôn thân thiện với châu Âu.

Như đầu đề của bài viết, Habermas nhận định đây là một cơ hội thứ hai để hoàn thành việc thống nhất nước Đức và đồng thời thúc đẩy sự hội nhập của châu Âu, trên cơ sở đó khắc phục các hậu quả kinh tế của đại dịch cũng như đẩy lùi trào lưu chính trị cực hữu. Và cơ hội thứ hai này, theo Habermas, chỉ còn tồn tại trong ít tháng nữa, ở Brüssel và kể cả ở Berlin.          

Tài liệu đọc thêm:

Jürgen Habermas, “Những thương tổn do lí trí gây nên có chăng chỉ có thể do lí trí hàn gắn được mà thôi”

https://drtruong.wordpress.com/2014/03/26/jurgen-habermas-nhung-thuong-ton-do-li-tri-gay-nen-co-chang-chi-co-the-do-li-tri-han-gan-duoc-ma-thoi/

© Trương Hồng Quang tổng thuật (03.10.2020)

PHẦN 2 CUỘC TRÒ CHUYỆN VỚI CỰU THÀNH VIÊN NHÓM „MORITZBURGER“, THẦY GIÁO DẠY TIẾNG ĐỨC LÊ ĐỨC DƯƠNG

🇩🇪 Teil 2 des Gespräches mit dem Deutschlehrer LÊ ĐỨC DƯƠNG (Jahrgang 1942, ehemaliger „Moritzburger“)
Interviewreihe zur Geschichte der vietnamesischen Migration nach Deutschland (#03) 
LEBEN MIT CORONA – PODCAST AUF VIETNAMESISCH AUS BERLIN
FOLGE 18, SONNTAG 13.09.2020
Fragesteller: Trương Hồng Quang

🇻🇳 Phần 2 cuộc trò chuyện với Thầy giáo dạy tiếng Đức LÊ ĐỨC DƯƠNG (sinh năm 1942, cựu thành viên nhóm „Moritzburger“)
Chuỗi phỏng vấn về lịch sử di dân của cộng đồng Việt Nam ở Đức (#03)
SỐNG CHUNG VỚI CORONA – PODCAST TIẾNG VIỆT TỪ BERLIN
KỲ 18, CHỦ NHẬT 13.09.2020
Người đặt câu hỏi: Trương Hồng Quang

Các nội dung chính của buổi trò chuyện:

00:50 Về bài báo trên tờ SPIEGEL ra ngày 22.11.2015 với nội dung phỏng vấn hai cựu thành viên nhóm Moritzburger, ông Lê Đức Dương và bà Võ Cẩm Trang, về các thành viên “MOMAX” (“Moritzburger” và “Maxim-Gorki-Heim”) hiện sống ở Đức, về chuyến đi sang Đức của các cựu thành viên “MOMAX” từ Việt Nam do DAAD (Cơ quan Trao đổi Hàn lâm Đức) tổ chức nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày nhóm Moritzburger sang Đức vào năm 2005

06:40 Giai đoạn học nghề ở Radebeul/Dresden (1959-1962)

35:53 Trở về nước, làm việc tại Viện Đo lường, học bổ túc văn hoá và tốt nghiệp lớp 10, thi đỗ vào Đại học Bách khoa ở Hà Nội (1962-1965)

38:35   Trở lại CHDC Đức, học đại học tại Đại học Kỹ thuật (TH) Magdeburg (1965-1970)

51:10 Trở về nước, bắt đầu làm việc tại Bộ môn tiếng Đức, Trường đại học Ngoại ngữ Thanh Xuân, kết hợp với công việc dịch (trong đó có đợt đi dịch cho ông Egon Krenz). Trở lại CHDC Đức vào ngày 22.12.1988 (1970-1988)

Có một chuyến tàu 65 năm trước / Es war einmal eine Zugfahrt von Hanoi nach Sachsen, vor 65 Jahren…

🇻🇳 Trò chuyện với Thầy giáo dạy tiếng Đức LÊ ĐỨC DƯƠNG (sinh năm 1942, nguyên thành viên nhóm „Moritzburger“)
Chuỗi phỏng vấn về lịch sử di dân của cộng đồng Việt Nam ở Đức (#02)
SỐNG CHUNG VỚI CORONA – PODCAST TIẾNG VIỆT TỪ BERLIN
KỲ 17, CHỦ NHẬT 06.09.2020
Người đặt câu hỏi: Trương Hồng Quang  

🇩🇪 Gespräch mit dem Deutschlehrer LÊ ĐỨC DƯƠNG (Jahrgang 1942, ehemaliger „Moritzburger“)
Interviewreihe zur Geschichte der vietnamesischen Migration nach Deutschland (#02)
LEBEN MIT CORONA – PODCAST AUF VIETNAMESISCH AUS BERLIN
FOLGE 17, SONNTAG 06.09.2020
Fragesteller: Trương Hồng Quang

Für die deutschen Leser sei der folgende, mit zahlreichen historischen Fotos versehene SPIEGEL-Artikel empfohlen, der ebenfalls über das Thema “Die vietnamesischen Moritzburger” berichtet und in dem Herr Lê Đức Dương, der Gast unseres vorliegenden Podcasts, ausführlich zu Wort kam:

https://www.spiegel.de/geschichte/vietnamesische-kinder-in-der-ddr-ein-paradies-bis-zur-wende-a-1060680.html#fotostrecke-278d9ec7-0001-0002-0000-000000131534

TS. Phạm Ngọc Kỳ – Bốn mươi năm hội nhập và phát triển của cộng đồng người Việt Nam trên nước Đức

(c) Foto: Quang Chí

Phát biểu tại lễ hội „Bốn mươi năm người Việt hội nhập và phát triển ở Đức“, Berlin ngày  27.6.2015 

Thưa tất cả những người đồng hương Việt Nam thân mến của tôi,
Thưa toàn thể các vị khách quý của buổi lễ hôm nay,

Tôi có vinh dự được đứng ở đây trong giờ phút đáng ghi nhớ này để cùng quí vị và những người đồng hương thân mến của tôi ôn lại một chặng đường, chặng đường bốn mươi năm hội nhập và phát triển của cộng đồng người Việt Nam trên nước Đức. Đúng ra người Việt Nam có mặt ở Đức sớm hơn nhiều so với con số 40 năm. Vào những năm năm mươi của thế kỷ trước, 350 học sinh Việt Nam đã được gửi đến Moritzburg để theo học các trường phổ thông. Nếu căn cứ vào mốc thời gian này thì con số được nhắc tới phải là 60 năm. Nhưng thưa quý vị kính mến, những người Việt đến nước Đức thời kỳ này chủ yếu để học tập, thăm quan hay công tác trong một thời gian, rồi trở về nước; hội nhập lúc đó là một nhu cầu xa lạ, chưa được đặt ra. Sau năm 1975, khi quan hệ ngoại giao giữa hai nhà nước CHXHCN Việt Nam và CHLB Đức chính thức được thiết lập đồng thời với việc thay đổi hệ thống chính trị (thống nhất) ở Việt Nam, một số người tị nạn từ Việt Nam sang CHLB Đức (chủ yếu bằng đường biển, gọi là thuyền nhân). Một số sinh viên từ chế độ Việt Nam Cộng hòa sang Đức du học cũng có nhu cầu ở lại. Đặc biệt sau này, vào những năm cuối của thập kỷ tám mươi, một số lượng lớn người lao động Việt Nam tại CHDC Đức, phải chấm dứt hợp đồng lao động sau sự kiện Thống nhất nước Đức, cũng có cơ hội và nhu cầu ở lại nước Đức. Yêu cầu hội nhập bắt đầu từ đây.

Cộng đồng người Việt ở CHLB Đức hôm nay, do đặc điểm lịch sử của nước Đức, cũng được hình thành từ hai khu vực: miền Tây và miền Đông nước Đức. Người Việt ở phía Tây chủ yếu là những người đi du học trước 1975 từ chế độ Việt Nam Cộng hòa và thuyền nhân trong thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ trước, số lượng này theo ước đoán khoảng trên dưới 40.000. Ở phía Đông hiện nay cư trú khoảng 85.000 người Việt Nam, có gốc chủ yếu là những người đi hợp tác lao động thời CHDC Đức và một bộ phận nhỏ những người đi du học trong thời gian này.

Nhìn chung những người Việt đang sống tại các Bang miền Tây đã có cuộc sống tương đối ổn định. Phần lớn trong số họ làm việc cho các hãng sản xuất hay tại các công sở của Đức. Con đường đến nước Đức trước đây của số người này có thể khó khăn hơn nhưng điều kiện hội nhập ban đầu của họ có nhiều thuận lợi so với những đồng hương đến sau. Lý do có lẽ là chính sách của nhà nước Đức hồi đó có nhiều ưu đãi với Thuyền nhân (Bootsflüchtlinge) hơn đối với người nhập cư nói chung về sau này? Vì điều kiện thời gian, trong phạm vi bài nói chuyện hôm nay tôi không đề cập nhiều đến quá trình hội nhập của số người Việt này. Xin được tập trung vào cộng đồng người Việt ở phía Đông với những thăng trầm Hội Nhập và Phát Triển trong 40 năm qua.

Thế hệ thứ nhất

Tính đến năm 1989 có khoảng hơn 100.000 người Việt đã học tập, nghiên cứu, sống hoặc làm việc thường xuyên hay có thời hạn tại CHDC Đức, đặc biệt tập trung tại các vùng như Đông Berlin, Rostock, Erfurt, Jena, Karl-Marx-Stadt (Chemnitz), Leipzig và Dresden. Đa phần trong số họ là những người đi hợp tác tác lao động. Đến năm 1989 con số người Việt sống thường xuyên tại CHDC Đức tăng lên đến xấp xỉ 60.000. 

Sau khi nước Đức thống nhất tình trạng thất nghiệp tại các bang miền đông tăng lên rất nhanh, trong đó có nhiều người lao động Việt Nam. Chính phủ liên bang đưa ra đề nghị đối với số người Việt sống tại các bang miền Đông hồi đó, họ sẽ nhận được toàn bộ chi phí để hồi hương, ngoài ra người lao động còn được hưởng thêm một khoản tiền bồi thường là 3.000 DM nếu trở về. Nhưng nhiều người trong số họ đã quyết định ở lại vì nhìn thấy ở đây những cơ hội tốt hơn cho tương lai của con cái họ như hệ thống giáo dục, chăm sóc sức khỏe…

Vào thời điểm sau khi bức tường sụp đổ, sự việc vẫn chưa rõ ràng, liệu những người „hợp tác lao động“ từ thời CHDC Đức nói chung có được phép ở lại nước Đức mới thống nhất hay không. Hợp đồng hợp nhất giữa hai nhà nước CHLB Đức và CHDC Đức đã bỏ sót mất điều khoản quy định chính thức về vấn đề cư trú cho số người này. Nhiều năm sau đó họ đã sống trong tình trạng không rõ ràng về quy định luật pháp, không có sự bảo đảm chắc chắn về quyền cư trú. Sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường lao động cùng với vốn tiếng Đức nghèo nàn của người lao động Việt Nam lúc đó là những rào cản lớn nhất để „hội nhập“. Đây là thời khó khăn nhất của cộng đồng người Việt tại miền Đông nước Đức. 

Xếp theo thứ tự ưu tiên trên thị trường tuyển dụng lao động, người Việt đứng cuối cùng, sau người (Đông) Đức và công dân các nước EU khác. Con đường mưu sinh gần như duy nhất mở ra cho họ lúc đó là tự kiếm sống, „selbstständig“. Những ai muốn ở lại đều phải tự kiếm cho mình một nghề kinh doanh, chủ yếu là bằng một chỗ bán hàng ngoài hè phố với một tờ giấy phép bán hàng rong, hồi đó chưa mấy ai có đủ tiền thuê một cửa tiệm. Tôi nhớ lại, những Straßenstände mọc lên ở khắp nơi, bất luận đó là một xe Imbiss, một quầy bán quần áo, rau quả hay quầy bán hoa tươi…, luôn xuất hiện hình ảnh những người Việt nhỏ bé, chăm chỉ, tận tình với khách hàng ở mọi miền của nước Đức. Không kể nắng hay mưa, bất kể mùa hè nóng nực hay hay cái rét cắt ruột của băng tuyết họ làm việc, làm việc và làm việc! Họ bán hàng và đôi khi là bán cả tuổi trẻ và sức khỏe của mình để mưu sinh.

Có một điều không thể không nhắc tới đó là thời gian sống và làm việc tại CHDC Đức. Những người lao động Việt Nam đã cống hiến những năm tháng tuổi xuân đẹp nhất của họ cho nước Đức và cũng đã nhận lại từ nước Đức bao điều tốt đẹp. Những đức tính tốt trong lao động như sự đúng giờ, tính kỷ luật và ý thức trách nhiệm trong công việc… Sự yêu thương, giúp đỡ của những gia đình người Đức dành cho các bạn Việt Nam mà chúng ta có thể kể ra ở đây vô vàn những thí dụ cảm động… là những vốn quý vô giá góp vào và làm mạnh lên „nội lực“ cho sự hội nhập và phát triển sau này của cộng đồng người Việt Nam.

Người Việt Nam có câu ngạn ngữ „ Có an cư, mới lạc nghiệp“. Trước năm 1993, đại đa số người Việt ở miền Đông  chỉ nhận được Aufenthaltsbewilligung, một dạng của giấy phép cư trú tạm, được gắn với một mục đích cụ thể, do sở ngoại kiều cấp mỗi ba hay sáu tháng 1 lần. Điều này gây tâm lý bấp bênh, lo lắng, không ổn định và dẫn đến những hành động chụp giật trong làm ăn: buôn lậu, trốn thuế, băng đảng trấn lột lẫn nhau…những vụ án Mafia thuốc lá tàn khốc của thời kỳ này thỉnh thoảng vẫn còn được nhắc đến như một nỗi đau trong lịch sử phát triển của cộng đồng. Nhà văn Nguyễn Văn Thọ, một người từng tham gia hợp tác lao động ở CHDC Đức, đã phản ánh một cách trung thực thời kỳ „đen tối“ này của cộng đồng người Việt ở Đức trong cuốn tiểu thuyết mang tên „Quyên“. Nhiều người còn biết đến câu chuyện qua bộ phim cùng tên của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình mới được trình chiếu tại Berlin cách đây vài tuần. Nhắc lại một thời với những biến cố để giữ cho nó không bao giờ được xẩy ra trong tương lai, cả với những thế hệ sau này.

Rốt cuộc năm 1993 chính phủ liên bang đã hợp thức hóa quy chế cho những người hợp tác lao động.

Nói đến hội nhập, đặc biệt là hội nhập từ nguyên nhân nhập cư, luôn bao gồm hai mặt quan trọng: những yêu cầu đối với người nhập cư và những đòi hỏi đặt ra với xã hội tiếp nhận họ. Những đấu tranh trong quốc hội, giữa các đảng phái của các chính khách Đức cho quyền lưu trú của người lao động là đề tài sôi động được quan tâm nhất trong cộng đồng người Việt suốt từ sau Wende mãi đến những năm 2005-2006. Tiêu biểu cho các nhà hoạt động xã hội – chính trị Đức đã có công lao lớn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động Hiệp định trong thời kỳ bước ngoặt ở CHDC Đức và về sau đã nhiệt thành đấu tranh cho quyền lưu trú của họ ở nước Đức thống nhất, ở đây xin được nêu tên bà Almuth Berger, Đặc phái viên Ngoại kiều cuối cùng của CHDC Đức và về sau là Đặc phái viên Ngoại kiều đầu tiên của Bang Brandenburg. Trong tương quan này tôi cũng muốn nhắc lại những hoạt động chính trị đầy ý nghĩa như buổi tham vấn về tình hình người lao động hiệp định Việt Nam do Khối nghị sỹ LIÊN MINH 90 – Đảng Xanh đã tổ chức tại Nghị viện Liên bang Đức vào đầu những năm 90 (lúc đó vẫn còn ở Bonn). Những bước đi cụ thể như vậy dần dần đã tạo ra một sự thay đổi tích cực trong cách nhìn nhận của công luận về hoàn cảnh của người lao động Hiệp định, và rốt cuộc đã giúp  họ dành được quyền lưu trú lâu dài ở CHLB Đức. Tại đây một lần nữa xin bày tỏ lòng cám ơn chân thành của chúng tôi!  

Những sự kiện „mở đường“ của luật pháp nước sở tại đồng thời cũng là những chiếc chìa khóa mở rộng cánh cửa vào thế giới hội nhập và phát triển cho cộng đồng người Việt ở đây.

Thế hệ thứ hai

Thế hệ thứ hai của người Việt tại Đức bao gồm hai lực lượng chủ yếu: con cái người lao động, đến thời điểm thống nhất nước Đức có độ tuổi dưới 14, vẫn còn sống tại Việt Nam được bố mẹ đón sang theo chính sách đoàn tụ gia đình; và các cháu được sinh ra tại nước Đức sau thời điểm nói trên. 
Nhóm thứ nhất lúc mới sang cũng gặp một số khó khăn nhất định trong quá trình hội nhập giống bố mẹ của các cháu trước đây đã từng có như: chưa biết tiếng Đức và chưa quen một số tập quán văn hóa của xã hội Đức. Có lợi thế tuổi trẻ, lại được theo học ngay trong các trường phổ thông với hệ thống giáo dục tiên tiến của Đức, những khó khăn này được khắc phục tương đối nhanh. Trong một thời gian ngắn, có nhiều cháu đã vươn lên, đạt được những thành tích đáng tự hào cho cộng đồng. Nhóm các cháu sinh ra tại đây sau năm 1990 được hưởng những điều kiện thuận lợi hơn so với nhóm thứ nhất; nhưng không phải lúc nào các thành tích xuất sắc trong học tập và hoạt động ngoại khóa cũng rơi vào nhóm này. Nguyên nhân của vấn đề này cũng đã được nhiều nhà báo, xã hội học… của  Đức phân tích trong một số bài viết thú vị đã được đăng tải trên các báo. Để tiết kiệm thời gian quý báu của quý vị  tại buổi lễ này, tôi chỉ xin trình bày một số kết quả đáng khích lệ nhất của thế hệ người Việt Nam thứ hai cùng những phân tích ngắn gọn. Xin bắt đầu bằng vài số liệu dẫn chứng đã được đăng trên những tờ báo có danh tiếng ở Đức. Tháng 4 năm 2010, Süddeutsche Zeitung trong bài „Nur Bildung führt weg vom Reisfeld“ đã viết: „Những người có xuất xứ Việt Nam được coi là những người nhập cư thành đạt nhất – Bộ trưởng y tế Philipp Rösler chỉ là một ví dụ“… Thành công của người Việt Nam được thể hiện rõ ràng qua các con số: hơn một nửa trong số con cái của họ ở Mecklenburg-Vorpommern đỗ và các trường Gymnasium, ở Thüringen con số đó hàng năm thậm chí còn lên tới 63% – nhiều hơn hẳn so với các em học sinh sở tại. Ngay cả trong những chương trình lớn về học bổng cho học sinh của các gia đình nhập cư có tên gọi „Start-Programm“, số người Việt Nam cũng đứng trên mức trung bình. „Người Việt Nam là một trong những nhóm hội nhập tốt nhất của các nhóm nhập cư ở nước Đức“, đó là nhận xét của Đặc phái viên hội nhập bang Brandenburg Giáo sư người Potsdam, bà Karin Weiss.

„Die Welt“ viết hôm 06.02.2011: „Những học sinh tốt nhất ở Đức đến từ Việt Nam“ … Trong các trường Gymnasium ở các quận trước đây thuộc miền đông Berlin như Friedrichshain, Lichtenberg hoặc Marzahn có 15 % học sinh con em của các gia đình Việt Nam. Ngay trong môn toán và khoa học tự nhiên nhiều em trong số đó rất giỏi. Trên toàn liên bang có khoảng 59% học sinh Việt Nam học trường Gymnasium“. Không chỉ trong các môn học ở trường phổ thông, các cháu học sinh Việt Nam còn đạt được nhiều thành tích to lớn trong nhiều lĩnh vực như âm nhạc, hội họa v.v.  và thậm chí cả thể thao, một lĩnh vực mà do những hạn chế về tố chất thể lực so với các giống người châu Âu, ít ai nghĩ đến.

Hiện tượng này có nguyên nhân sâu xa của nó. Olaf Beuchling, một nhà nghiên cứu về giáo dục, phát biểu theo bài báo đã dẫn: “Các bậc cha mẹ Việt Nam rất ý thức về việc học hành (của con cái) và luôn đặt lên con cái những áp lực về thành tích học tập. Họ dành tất cả cho một sự học tập tốt, bằng mọi giá. Đó là truyền thống trong gia đình Việt Nam“. 

Nhìn lại điểm xuất phát đầy gian khổ của thế hệ thứ nhất cùng những nếp nghĩ truyền thống trong gia đình người Việt, chúng ta sẽ phần nào lý giải được vấn đề đã nêu. Và, cũng như đã nói ở trên, thực tế này không áp dụng được một cách  triệt để với các cháu thế hệ thứ hai được sinh ra ở đây. Đó có thể là nỗi băn khoăn của nhiều bậc cha mẹ Việt Nam! Nhưng tôi tin rằng, con đường hội nhập của các cháu sẽ khác, thành công hơn và không chỉ được đánh giá qua  những con số của thành tích. Khó khăn nằm ở chỗ, làm sao giữ được cho các cháu một chút tâm hồn Việt, một chút bản sắc Việt. Một chút thôi nhưng phải là những gì tinh hoa nhất. Phần còn lại con cháu chúng ta sẽ làm tiếp. Tất cả những mong ước ấy chỉ có thể thực hiện thông qua văn hóa, văn hóa hội nhập.        

Hội nhập là con đường dẫn đến thành công

Kính thưa các vị khách quý, thưa toàn thể anh chị em, bà con Viêt Nam thân mến. 

Nhìn lại quá khứ để định hướng cho tương lai, đó chính là mục đích sâu xa của những người tổ chức buổi lễ hôm nay. Những gì khó khăn nhất chúng ta đã vượt qua. Hôm nay chúng ta có thể nói với nhau rằng: cộng động người Việt đã đặt được những bước chân đầu tiên vào con đường „Hội nhập“. Nước Đức đã thật sự trở thành quê hương thứ hai của nhiều người Việt chúng ta và không chỉ đối với thế hệ thứ hai. Cộng đồng người Việt tại CHLB Đức muốn bầy tỏ với nhân dân Đức, nhà nước Đức sự biết ơn sâu sắc nhất về tất cả những gì nước Đức và người Đức đã dành cho chúng tôi trong nhiều năm qua. Không có những điều đó sẽ không có một cộng đồng người Việt lớn mạnh như hôm nay. Cộng đồng người Việt luôn coi việc gắn bó với nước Đức là sự sống còn của mình và hòa nhập vào xã hội Đức là nghĩa vụ công dân cao cả. 

Hội nhập tốt trên quê hương thứ hai – nước Đức – còn là sự đền ơn, đáp nghĩa đối với tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta. Đất mẹ Việt Nam cũng sẽ rạng danh khi những người con xa nhà ăn ở có đạo lý. Xây dựng một cộng đồng đoàn kết, cùng hội nhập chúng ta sẽ có cơ hội giúp nước tốt hơn.

Để kết thúc câu chuyện về hội nhập và phát triển, tôi muốn nhắc lại một hồi tưởng thú vị. Năm 1990, có một người Việt ở Potsdam vừa thất nghiệp. Anh ta lơ ngơ giữa ngã ba đường để chọn cho mình một lối đi: về hay ở lại. Anh đã chọn con đường ở lại và khởi nghiệp từ một xe bán Imbiss tại một con phố nhỏ đất Cố Đô. 25 năm sau người đàn ông đó mời tất cả chúng ta đến chỗ anh ta, cùng liên hoan với bạn bè Đức và chính quyền sở tại để ôn lại những cố gắng của người Việt mình trên con đường hòa nhập vào xã hội Đức. Người đàn ông đó nói với tôi: anh phải lên đây, nói với mọi người rằng „con đường hội nhập của người Việt trên nước Đức là có thật và nó là con đường dẫn đến sự thành công“. Người đàn ông Việt đó không phải ai khác, mà chính là ông Nguyễn Văn Hiền, chủ nhà của buổi lễ hôm nay, và, nơi chúng ta đang đứng đây là thành quả lao động của ông trong quá trình mày mò hội nhập. Tôi tin là ông đã nói đúng.

Chúc quý vị và các bạn có một buổi lễ thật vui và ý nghĩa. Xin cảm ơn sự chú ý của quí vị.

Deutsche Version der Rede:

https://drtruong.wordpress.com/2015/07/09/pham-ngoc-ky-erfolgreiche-integration-in-der-zweiten-heimat/

Interview mit Frau Christina Weber (Lufthansa Group) zum Thema „Umgang mit Corona in der Arbeitswelt“



🇻🇳 Phỏng vấn bà Christina Weber, Thành viên Hội đồng quản trị Tập đoàn Lufthansa và Chủ tịch Hội đồng xí nghiệp Tập đoàn LSG về chủ đề “Ứng xử với Corona trong thế giới việc làm” (Ngôn ngữ: Tiếng Đức – nội dung tóm tắt và bản dịch tiếng Việt sẽ được công bố sau)

🇩🇪 Interview mit Frau Christina Weber, Mitglied des Aufsichtsrates der Lufthansa Group und Konzernbetriebratsvorsitzende der LSG Group zum Thema „Umgang mit Corona in der Arbeitswelt“

Mit der vorliegenden Folge #15 von „Leben mit Corona – Podcast auf Vietnamesisch aus Berlin“ freue ich mich ganz besonders, Ihnen/Euch mein heutiges Telefoninterview mit Frau Christina Weber zum Thema „Umgang mit Corona in der Arbeitswelt“ präsentieren zu dürfen. Frau Christina Weber ist Mitglied des Aufsichtsrates der Lufthansa Group und Konzernbetriebratsvorsitzende der LSG Group, die mit einem Marktanteil von weltweit 30 Prozent der größte Anbieter von Bordverpflegung ist.

Im ersten Teil des Gespräches ging Frau Weber auf meine Fragen über die aktuellen Herausforderungen an die Lufthansa Group im allgemeinen (01:30) und an die LSG Group im besonderen (10:58), und zwar jeweils aus ihrer Sicht als Lufthansa-Aufsichtsrätin und LSG-Konzernbetriebratsvorsitzende ein. 

Im zweiten Teil stellte sie auf Bitte des Fragestellers den Betriebsrat als spezifisches Organ der Arbeitnehmervertretung in Deutschland (16:40), die Beziehungen zwischen Betriebsrat und Gewerkschaft und das System der deutschen Gewerkschaft in dessen besonderen Ausprägungen als Einheitsgewerkschaft (29:20) dar. Die in diesem Zusammenhang thematisierten Erfahrungen und Einschätzungen dürften von großem Nutzen und hoher Relevanz für ein Land wie Vietnam sein, welches im Zuge der Integration in die Weltwirtschaft schrittweise auch neue Formen der Interessenvertretungen der Arbeitnehmerschaft und der Austragung von Konflikten in der Arbeitswelt erproben und implementieren muss. 

Im dritten und letzten Teil des Gespräches nahm Frau Weber Stellung zur aktuellen Rassismus-Debatte und zu den Fragen der Integration von ausländischen Arbeitskräften in Deutschland ein (34:00) – immerhin setzen sich die Mitarbeiterinnen und Mitarbeiter aus den deutschen Standorten bei der LSG Gruppe aus mehr als 100 Nationalitäten zusammen! Zum Abschluss (41:30) gewährte sie einen Einblick in ihre persönlichen Engagements im Rahmen der Arbeit der jesuitischen Mission, über die Anknüpfungsspunkte zwischen ihrer Bildungsherkunft als katholische Theologin und ihren beruflichen Aufgaben in der modernen Wirtschaft und Industrie, und zuletzt über ihre tiefe Bindung zu Asien, speziell auch zur Region Südostasien und zum Land Vietnam.         

„Leben mit Corona – Podcast auf Vietnamesisch aus Berlin“
Folge 15, Dienstag 16.06.2020
, Dauer: 49 Minuten

“Sống chung với Corona – Podcast tiếng Việt từ Berlin”
Kỳ 15, thứ ba ngày 16.06.2020
, Thời lượng: 49 phút

Fragesteller / Người đặt câu hỏi: Trương Hồng Quang

Interview mit Ministerpräsident Bodo Ramelow / Phỏng vấn Thủ hiến Bodo Ramelow (Bang Thüringen, CHLB Đức)

 

🇩🇪  In der 11. Folge von „Sống chung với Corona – Podcast tiếng Việt từ Berlin“ („Leben mit Corona – Podcast auf Vietnamesisch aus Berlin“ ) haben wir heute nachmittags die große Ehre gehabt, ein Telefoninterview mit dem Ministerpräsidenten des Freistaates Thüringen, Herrn Bodo Ramelow, zu führen. Es ist insofern auch eine große Premiere, dass hiermit zum ersten Mal ein Gespräch im Rahmen des Podcast in deutscher Sprache  stattgefunden hat. Ursprünglich ist das Interview für ca. 20 Minuten geplant, am Ende ist es ein Gespräch von fast 40 Minuten geworden, in dem der Ministerpräsident geduldig auf alle Fragen des Gastgebers eingegangen ist.

Wir haben Herrn Ramelow u.a. nach seiner Einschätzung über den bisherigen Verlauf der Covid-19-Pandemie und die entsprechenden Bewältigungsstrategien durch die Bundesrepublik Deutschland und den Freistaat Thüringen, nach den bisherigen wichtigsten und schwierigsten Entscheidungen des Ministerpräsidenten gefragt.

Im Laufe des Gespräches hat der Ministerpräsident auf unsere Bitte hin aber auch zu Fragen der politischen Abstimmungsprozesse zwischen Bund, Ländern und den Kommunen (ab Minute 10:19), des gerade im Kontext der derzeitigen gesellschaftlichen Diskussion hochaktuellen und hochsensiblen Verhältnisses zwischen Politik und Wissenschaft  Stellung genommen (ab Minute 19:00), so auch zur in der Wochenzeitung „Die Zeit“, Nr. 20 vom 07.05.2020 erschienenen Debatte über die Frage „Lebensschutz oder Freiheit“ zwischen dem Philosophen Jürgen Habermas und dem Rechtstheoretiker Klaus Günther.

Der letzte Teil des Gespräches ist den Themen über die vietnamesische Community in Deutschland (ab Minute 28:20) und über die Beziehungen zwischen Thüringen/Deutschland und Vietnam gewidmet (ab Minute 32:15). Demnächst wird eine deutsche Textversion erstellt, es folgt anschließend eine vietnamesische Übersetzung.          

🇻🇳  Tại kỳ 11 của „Sống chung với Corona – Podcast tiếng Việt từ Berlin“ trong chiều nay (11.05.2020), chúng tôi đã có vinh dự được phỏng vấn qua điện thoại Thủ hiến Bang Thüringen (CHLB Đức), ông Bodo Ramelow. Sự kiện này còn thêm một ý nghĩa đặc biệt nữa bởi đây cũng là cuộc trò chuyện đầu tiên được thực hiện bằng tiếng Đức trong khuôn khổ của Podcast. Lúc đầu cuộc phỏng vấn dự kiến chỉ kéo dài khoảng 20 phút, nhưng cuối cùng, nó đã trở thành một cuộc trò chuyện dài gần 40 phút, trong đó Thủ hiến đã kiên nhẫn trả lời tất cả các câu hỏi từ phía chủ nhà.

Ông Ramelow đã đánh giá về diễn biến của đại dịch Covid 19 cho đến nay và các chiến lược đối phó tương ứng của Cộng hòa Liên bang Đức và Bang Thüringen, chia sẻ về những quyết định quan trọng nhất và khó khăn nhất của ông với tư cách là một chính trị gia.

Theo yêu cầu của người đặt câu hỏi, Thủ hiến cũng đưa ra những giải thích cặn kẽ về quá trình hoạch định chính sách ở Đức, về thể chế Liên bang, quan hệ giữa Liên bang, các Bang và địa phương, đặc biệt trong quá trình ban hành và thực hiện các chính sách phòng chống đại dịch hiện tại. Ông cũng chia sẻ quan điểm về mối quan hệ mang tính thời sự  và tính nhạy cảm rất cao giữa chính trị và khoa học, đặc biệt là trong các thảo luận hiện nay (bao gồm cả cuộc tranh luận gần đây nhất về câu hỏi “bảo vệ tính mạng  hay tự do” giữa nhà triết học Jürgen Habermas và nhà lý luận pháp lý Klaus Günther trên tờ báo “Die Zeit” /„Thời đại“, số 20 ra ngày 7 tháng 5 năm 2020).

Phần cuối của cuộc trò chuyện được dành cho các chủ đề về cộng đồng người Việt ở Đức và mối quan hệ giữa Bang Thüringen / CHLB Đức và Việt Nam. Trong thời gian tới  nội dung buổi nói chuyện bằng tiếng Đức sẽ được văn bản hóa và bản dịch tiếng Việt toàn văn bài phỏng vấn sẽ được công bố sau đó.

Leben mit Corona – Podcast auf Vietnamesisch aus Berlin“
Folge 11, Dienstag 11.05.2020

Sống chung với Corona – Podcast tiếng Việt từ Berlin“
Kỳ 11, thứ Ba ngày 11.05.2020

Fragesteller/Người đặt câu hỏi: Trương Hồng Quang 

Üben den Podcast:

Der Titel des Podcast „Sống chung với Corona“ (zu deutsch: „Leben mit Corona“) ist die Anspielung auf ein geflügeltes Wort in Vietnam, anstelle von „Corona“ steht dort ursprünglich aber das Wort „lũ“ (Flut/Hochwasser). So wie das ursprüngliche geflügelte Wort impliziert der Podcast-Titel, dass wir uns hier auf eine sehr große und langwierige gesamtgesellschaftliche, ja menschheitsgeschichtliche Herausforderung einstellen müssen. Besprochen werden nicht nur medizinische, sondern auch politische, ökonomische, soziale, kulturelle, religiöse und philosophische Themen, die für die Bewältigung der Krise in allen ihren Aspekten relevant sein können. Zu Wort kommen nicht nur Fachleute aus den verschiedenen Gebieten, sondern auch einfache Bürgerinnen und Bürger, die ihre Erlebnisse und Erfahrungen mit anderen Menschen teilen wollen. In einem engeren Sinne stellt der Podcast auch den Versuch dar, gerade in einer Zeit der „social distancing“ das persönliche Gespräch fortzuführen und zu pflegen. Schritt für Schritt werden nicht nur vietnamesische MuttersprachlerInnen, sondern auch deutsche Gäste zum Gespräch eingeladen, die Gesprächsinhalte werden dann ins Vietnamesische übersetzt und als Untertitel eingeblendet bzw. als als Begleittexte veröffentlicht.

Macher des ausschließlich aus Eigenmitteln finanzierten Podcast ist Dr. phil. Truong, Hong Quang, beeidigter Dolmetscher und Übersetzer für Vietnamesisch in Berlin und promovierter Literaturwissenschaftler.