Jürgen Habermas, 30 năm sau: Cơ hội thứ hai – Bước ngoặt trong chính sách châu Âu của Merkel và quá trình thống nhất nước Đức

Jürgen Habermas trong lần giảng bài tại Đại học Frankfurt vào ngày 19.6.2019, một ngày sau khi ông tròn 90 tuổi (Ảnh chụp từ màn hình: THQ)

Trước thềm kỷ niệm 30 năm ngày thống nhất nước Đức, Jürgen Habermas, triết gia Đức quan trọng nhất hiện còn sống, người được mệnh danh là “Hegel của CHLB Đức”, đã cho công bố bài viết có tiêu đề như trên ở tờ nguyệt san “Blätter für deutsche und internationale Politik” (“Tạp chí Chính trị Đức và Quốc tế”), số 09/2020. 

Bài viết dài 16 trang in của nhà triết học năm nay đã 91 tuổi đưa ra một đánh giá tổng quan về quá trình thống nhất nước Đức trong 30 năm qua (1990-2020) từ giác độ của cuộc khủng hoảng hiện tại do đại dịch Covid-19 mang lại và từ cột mốc của diễn biến chính trị gần đây nhất mà ông gọi là “bước ngoặt trong chính sách châu Âu” của Thủ tướng Đức Angela Merkel.

Những ai theo dõi các bài phân tích và bình luận chính trị của Habermas trong khoảng hơn mười năm trở lại đây – kể từ giai đoạn khủng hoảng tài chính và ngân hàng khởi đầu vào năm 2007 – đều biết rõ về quan điểm phê phán của tác giả đối với chính sách thắt chặt tài khoá của chính phủ Đức mà đại diện tiêu biểu là Thủ tướng Merkel và cựu Bộ trưởng Tài chính Wolfgang Schäuble, đặc biệt được thể hiện trong thái độ cứng rắn đối với các quốc gia “con nợ” của vùng phía Nam EU.

Việc “chỉ qua một đêm” Thủ tướng Đức đã quyết định bắt tay hợp tác với Tổng thống Pháp Macron và thông qua thoả hiệp lịch sử tại Hội nghị Thương định mới đây của EU về việc đưa ra các gói cứu trợ chung, theo Habermas, đã mở ra một triển vọng mới cho Liên minh châu Âu vốn đang tiềm tàng nguy cơ sụp đổ.

Một trong những điều kiện để có được bước đột phá quan trọng nhất này trong quá trình hội nhập EU kể từ mốc Hiệp ước Maastricht chính là sự ly khai của Vương quốc Anh. Tuy nhiên nguyên nhân thực sự, điều bí ẩn nằm đằng sau quyết định thay đổi chính sách triệt để của Merkel, theo phân tích của bài viết, lại có liên quan sâu xa đến quá trình thống nhất nước Đức trong 30 năm qua và các hệ luỵ của nó.      

Có lẽ một trong những ý tưởng gây “sốc” nhất của tác giả, đặc biệt vào đúng dịp lễ lớn đang diễn ra, là nhận định của Habermas cho rằng việc thống nhất giữa hai nhà nước Đức đã dựa trên một tiền đề hiến pháp sai lầm, tức là điều 23 của Bộ luật cơ bản (Grundgesetz). Điều 23 này sở dĩ được đưa ra trong Luật cơ bản của CHLB Đức (cũ) là để làm tiền đề cho việc sát nhập trở lại của Bang Saarland mới tách rời khỏi Đức 4 năm trước đó mà trên căn bản cùng chung định chế chính trị, kinh tế với các Bang Tây Đức còn lại. Việc sát nhập (Beitritt) nước CHDC Đức hơn bốn thập kỷ sau đó vào thể chế hiện hành CHLB Đức đã tước đi cơ hội lịch sử để hai miền nước Đức có thể cùng kiến tạo một Hiến pháp chung, khởi đầu cho một ý thức chính trị bền vững về một sự thống nhất quốc gia tự nguyện.     

Sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, bóng ma của nguy cơ tái xuất của một thứ “Vương quốc Đức” ở giữa trung tâm lục địa, tức một “cường quốc tầm trung” (Mittelmacht) có từ thời Hoàng đế Wilhelm Đệ Nhị – quá lớn để đảm bảo một tiến trình hội nhập hoà bình và quá bé để có thể trở thành một thế lực bá chủ – đã khiến cho các nước láng giềng châu Âu phải lo ngại. Thủ tướng Đức Helmut Kohl lúc đó – trên phương diện sách lược đối ngoại – đã “mua” sự tái thống nhất của nhà nước dân tộc Đức bằng quyết định từ bỏ đồng tiền D-Mark và đặt tương lai của nước Đức thống nhất trong khối thịnh vượng chung EU và đồng tiền Euro. Hay nói một cách khác, Hiệp ước Maastricht (1992) như một nền tảng của quá trình hội nhập châu Âu cũng chính là hệ quả và đồng thời là điều kiện của việc thống nhất hai miền Đông và Tây Đức. 

Tuy nhiên quá trình thống nhất nội tại của hai nhà nước Đức ở các giai đoạn tiếp theo đã không nhất thiết tạo ra hiệu ứng tích cực đối với mục tiêu hội nhập của châu Âu.   

Trong bài viết Habermas dành phần lớn dung lượng cho việc soi chiếu hai con đường phát triển khác nhau của hai nhà nước Đức từ sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ 2 cho đến thời điểm thống nhất, và đặc biệt tập trung vào phân tích quá trình thống nhất diễn ra trên thực tế từ năm 1990 cho đến nay. Khuôn khổ của một bài lược thuật không cho phép đi sâu vào các phân tích của tác giả về những cột mốc khác nhau trong lịch sử của nước CHLB Đức cũ, từ chính sách hướng Tây và đồng thời phục hồi vai trò của các tầng lớp tinh hoa Đức Quốc Xã trên hầu hết mọi vị trí quyết định của bộ máy chính trị, tư pháp, an ninh vào thời Thủ tướng Konrad Adenauer, qua phong trào phản kháng 68 đến chính sách đối thoại với khối Đông Âu từ thời Thủ tướng Willi Brandt v.v. cũng như về lịch sử đặc thù của CHDC Đức xuyên suốt thời kỳ chiến tranh lạnh và đối đầu hệ thống. 

Điểm khác biệt giữa hai miền Đông và Tây Đức trong tương quan với di sản Đức Quốc Xã là ở CHLB Đức cũ, với vai trò quyết định của xã hội dân sự, trải qua rất nhiều xung đột đã từng bước hình thành một công luận độc lập với định hướng tới các giá trị dân chủ và nhà nước pháp quyền, trong lúc ở CHDC Đức, mặc dù có một hệ tư tưởng chống phát xít được áp đặt từ trên xuống, đã không tồn tại một công luận chính trị cho phép các luồng quan điểm chà xát với nhau để đi tới đồng thuận. Quá trình thống nhất giữa hai nhà nước Đức đã không dẫn tới hệ quả hình thành một công luận mới ở khu vực Đông Đức trước đây, mà ngược lại người dân ở đó đã bị „tước đoạt“ các thiết chế truyền thông của mình thông qua việc hầu hết các tờ báo, đài phát thanh, truyền hình đã được các nhà đầu tư từ Tây Đức mua lại và đặt giới quyền của các Tổng biên tập từ Tây Đức. Đi tiếp một bước nữa, truyền thông Tây Đức tập trung vào việc hạ bệ các nhà văn và trí thức Đông Đức mà tác phẩm của họ là kết tinh các trải nghiệm đời sống hàng ngày của người dân Đông Đức cho đến thời điểm đó. Stefan Heym, Christa Wolf, Heiner Müller v.v. – những tên tuổi trước đây còn được tung hô ở CHLB Đức cũ, nay bị coi là những kẻ đồng lõa và tay sai của hệ thống an ninh Stasi. Hệ quả là, như ý kiến gần đây của Klaus Wolfram, một trong những lãnh tụ của phong trào phản kháng „Neues Forum“ (Diễn đàn mới) thời CHDC Đức được Habermas trích dẫn là „đối thoại trên phạm vi xã hội, ý thức chính trị, ký ức xã hội, tất cả những khả năng để đạt tới một sự đồng thuận xã hội mà đông đảo người dân vừa giành được đã bị thay thế bởi việc phế truất quyền dân sự và thói dạy dỗ kẻ cả.“    

Tất cả các chi tiết như vậy là những tấm khảm tạo nên bức tranh về sự trỗi dậy của AfD („Giải pháp cho nước Đức“) trên chính trường Đức, song song với các vụ khủng bố phát xít và phong trào bài xích người nước ngoài, phân biệt chủng tộc, đặc biệt diễn ra trên khu vực Đông Đức. Trong tương quan này, Habermas nhận định với AfD lần đầu tiên trong lịch sử CHLB Đức ở phía hữu của Union (tức hai Đảng CDU – Liên minh Dân chủ Thiên chúa giáo – và CSU – Liên minh Xã hội Thiên chúa giáo) một đảng phái chính trị với chủ nghĩa dân tộc cực đoan và tinh thần phân biệt chủng tộc đã tự khẳng định, như một hệ quả bùng phát của các mâu thuẫn không được giải tỏa trong quá trình thống nhất của hai nhà nước Đức.  

Tuy nhiên cái mới và có thể nói là „thông điệp lạc quan“ của Jürgen Habermas trong bài tiểu luận này là đánh giá của ông cho rằng giới cầm quyền hiện tại của CHLB Đức, trước hết là cá nhân Thủ tướng Merkel, đã nhận diện rõ mối nguy cơ này. Trên phương diện đối nội, điều này thể hiện qua thái độ kiên quyết với AfD sau sự kiện khủng hoảng chính trị tại Nghị viện Bang Thüringen vào đầu năm nay ở Erfurt. Thay vào xu hướng tranh thủ những „người dân lo âu“ và cử tri của AfD như từ trước tới nay, các đảng cầm quyền bảo thủ CDU/CSU đã chính thức công nhận sự tồn tại của một chính đảng tồn tại ở cánh hữu của mình và đấu tranh, phê phán nó không khoan nhượng trong phạm vi của thể chế dân chủ. Trên phương diện chính sách châu Âu đấy là bước ngoặt có tính chất „hệ hình“, thúc đẩy tiến trình hội nhập châu Âu một cách toàn diện, và không chỉ theo đuổi một đường lối dân tộc chủ nghĩa về kinh tế dưới vỏ bọc mang tính từ chương của các phát ngôn thân thiện với châu Âu.

Như đầu đề của bài viết, Habermas nhận định đây là một cơ hội thứ hai để hoàn thành việc thống nhất nước Đức và đồng thời thúc đẩy sự hội nhập của châu Âu, trên cơ sở đó khắc phục các hậu quả kinh tế của đại dịch cũng như đẩy lùi trào lưu chính trị cực hữu. Và cơ hội thứ hai này, theo Habermas, chỉ còn tồn tại trong ít tháng nữa, ở Brüssel và kể cả ở Berlin.          

Tài liệu đọc thêm:

Jürgen Habermas, “Những thương tổn do lí trí gây nên có chăng chỉ có thể do lí trí hàn gắn được mà thôi”

https://drtruong.wordpress.com/2014/03/26/jurgen-habermas-nhung-thuong-ton-do-li-tri-gay-nen-co-chang-chi-co-the-do-li-tri-han-gan-duoc-ma-thoi/

© Trương Hồng Quang tổng thuật (03.10.2020)

Chúng ta được phép nhân nhượng tới mức nào trước một nước Trung Hoa độc đoán?

Tóm tắt một số câu trả lời của Theo Sommer, nguyên Tổng biên tập lâu năm của tờ tuần báo Đức “DIE ZEIT” (Thời đại), nguyên là quan chức cao cấp của Chính phủ Đức, về ba vấn đề nóng bỏng nhất hiện nay trong chính sách với Trung Quốc: Hồng Kông, thương chiến Mỹ-Trung và Tân Cương. Tổng thuật từ bài báo mới công bố sáng nay của tác giả trên “ZEIT ONLINE”.

Về vấn đề Hồng Kông: Theo Sommer (TS) đúng là các lực lượng dân chủ đã dành được đa số tại 17 trên 18 hội đồng quận trong bầu cử vừa qua, với tỷ lệ 81 % số ghế cho lực lượng dân chủ và 15,6 % số ghế cho các lực lượng ủng hộ Bắc Kinh. Tuy nhiên kết quả này sở dĩ có được là do quy định về tỷ lệ đa số trong luật bầu cử của Hồng Kông, không phản ánh được thực chất tỷ lệ các số phiếu của cử tri: Theo đó thì có 57,10 %  số phiếu ủng hộ phe dân chủ, 45% ủng hộ Bắc Kinh. Tỷ lệ này không khác biệt so với kết quả thăm dò dư luận trước đó: 55 % có thiện cảm với phe dân chủ, 45% nghiêng về ủng hộ Bắc Kinh. Kết luận của TS:  Hồng Kông vẫn là một thành phố bị chia rẽ sâu sắc.

Về  thương chiến Mỹ-Trung:  Nếu trong những tuần lễ tới hai bên không đi đến nhượng bộ, thuế nhập khẩu cho hàng Trung Quốc vào Mỹ sẽ tăng lên 24%, cho hàng Mỹ vào Trung Quốc sẽ tăng lên 26%. Theo TS phía chịu thiệt hại chính không phải là Trung Quốc, mà là Mỹ. Việc áp dụng các chính sách thuế hải quan cho đến nay khiến cho mỗi hộ gia đình ở Mỹ phải chịu một gánh nặng tài chính hàng năm gồm 620 USD, nếu tiếp tục gia tăng thuế hải quan, gánh nặng này sẽ tăng gấp đôi. Khác với các dự báo cho đến nay, việc tăng thuế hải quan vẫn không hề khiến Trung Quốc giảm giá các sản phẩm của mình. Một ví dụ cho phương thức phản ứng của Trung Quốc: Bắc Kinh đánh thuế 25% cho tôm hùm nhập khẩu từ Mỹ, với hệ quả là việc xuất khẩu từ Mỹ bị giảm bớt 70%,  đồng thời giảm thuế nhập khẩu tôm hùm từ Canada xuống mức 3%, với hệ quả là việc xuất khẩu từ Canada tăng lên gấp đôi. Kết quả đối với người tiêu dùng của Trung Quốc: Giá tôm hùng cùng chủng loại và chất lượng giờ đây đã giảm xuống. Cho đến hiện tại Trung Quốc đã khắc phục các hậu quả của cuộc thương chiến tốt hơn Mỹ. Thiệt hại lớn nhất đối với Trung Quốc do khu vực kinh tế tư nhân ở đó gánh chịu (với 90% tỷ trọng xuất khẩu), khu vực kinh tế nhà nước lại được củng cố. Kết luận của TS: Tổng thống Trump, theo lẽ thông thường, bắt buộc phải dừng bước trước bờ vực thẳm của cuộc thương chiến.

Về vấn đề Tân Cương: Câu hỏi cụ thể mà TS đặt ra ở đây là liệu các tập đoàn của Đức như Volkswagen, BASF, Bosch hay Siemens có được phép mở nhà máy, đầu tư ở Tân Cương, nơi có hơn một triệu người Duy Ngô Nhĩ theo đạo Hồi đang bị giam giữ trong các trại cải tạo? Câu trả lời: Quá một nửa công ty DAX (chỉ số chứng khoán quan trọng nhất của Sở giao dịch chứng khoán Frankfurt, bao gồm 30 công ty Đức lớn nhất) phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Ai yêu cầu các Chủ tịch Tập đoàn kinh tế Đức đương đầu với Bắc Kinh, người đó phải chấp nhận sự tồn vong của nền kinh tế Đức, việc làm và sự thịnh vượng của người Đức cũng sẽ bị đe dọa. 

Liên hệ của người điểm báo hay là cái moral of the story: „It’s the economy, stupid!“ (Bill Clinton, 1992)

Nguồn: https://www.zeit.de/politik/ausland/2019-12/china-hongkong-uiguren-arbeitslager-usa-handelskrieg/komplettansicht 

“Các vị có thấy ở đây một người đàn ông đang tỏ ra chua chát? Không.” 

Tạp chí SPIEGEL, số ra tuần này (Nr. 28, 6.7.2019), có một bài phỏng vấn dài với Egon Krenz (82 tuổi), nguyên Tổng bí thư của Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức (SED) và Chủ tịch cuối cùng của Hội đồng nhà nước CHDC Đức với nhan đề ở trên, như là một trích dẫn của nhân vật. Ký giả thực hiện bài phỏng vấn cho biết Krenz có một trí nhớ rất tốt và khả năng trình bày chuẩn xác. Nội dung cuộc nói chuyện xoay quanh thời kỳ sụp đổ bức tường Berlin, tức cũng là sự sụp đổ của CHDC Đức, lúc Krenz đang giữ các chức vụ tối cao trong hệ thống chính trị của nhà nước này. Trong bài phỏng vấn Krenz nhận định Gorbatschow là một “kẻ phản bội” (Krenz cho hay người tiền nhiệm của ông, Erich Honecker, từ 1987 đã có được thông tin rằng Moscow sẵn sàng bỏ rơi CHDC Đức), đồng thời lại bày tỏ sự đồng tình với quyết định mở cửa biên giới cho người tị nạn vào năm 2015 của Thủ tướng Angela Merkel, như là một hành động nhân đạo.

Bản thân Krenz cũng đã có một quyết định lịch sử vào ngày 09 tháng Mười một 1989 – chấp nhận việc bức tường Berlin bị sụp đổ, không sử dụng bộ máy quân đội, an ninh quốc gia để chống lại nhân dân. Krenz thuật lại những giây phút đầy kịch tính vào buổi tối hôm đó: Ban chấp hành TW Đảng SED họp đến 20:45 h, chỉ ít phút sau đó Erich Mielke, Bộ trưởng An ninh Quốc gia, gọi điện cho Krenz, thông báo về làn sóng người đang tràn đến bức tường. Trách nhiệm bảo vệ biên giới thuộc về Bộ trưởng Quốc phòng Heinz Keßler, nhưng ông này đang trên đường từ hội nghị BCHTW trở về Trụ sở Bộ ở Straußberg và không thể liên lạc được. Mielke yêu cầu phải đưa ra quyết định ngay tức thì, bởi nếu không sẽ mất khả năng kiểm soát tình hình. Và khi Krenz hỏi Mielke đưa ra đề nghị nào thì ông này chỉ nói: “Anh là Tổng bí thư.” Krenz hiểu là Mielke sẽ chấp nhận bất cứ quyết định nào của mình, và Krenz đã đưa ra quyết định không áp dụng bạo lực. Và Mielke, Bộ trưởng Anh ninh Quốc gia lâu năm nhất và khét tiếng nhất của CHDC Đức, theo lời kể của Krenz, lúc đó đã nói với ông “Hast recht” (“Anh có lý”).

Câu chuyện còn rất dài, và nhiều dữ kiện do Krenz đưa ra đương nhiên còn phải được kiểm chứng. Trước khi viết những dòng này, tôi còn đọc thêm một vài bài viết về Krenz và biết thêm một thông tin khá bất ngờ: Chữ “Wende in der DDR” (“Thời kỳ bước ngoặt ở CHDC Đức”) không phải như nhiều người nhầm tưởng là một khái niệm do phong trào phản kháng của người dân CHDC Đức đưa ra, mà Egon Krenz chính là người đầu tiên đã dùng trong bài diễn văn nhận chức TBT thay cho Erich Honecker.  Và không phải ai khác mà chính là Frank Schirrmacher, Chủ bút lừng danh của tờ Frankfurter Allgemeine Zeitung (FAZ, một nhật báo Đức hàng đầu với xu hướng bảo thủ) ngay từ năm 2009 đã nhận xét phải có một đánh giá công bằng về vai trò của Krenz trong sự kết thúc bất bạo động của CHDC Đức… Sự đánh giá đó đương nhiên đã không giúp Egon Krenz tránh được số phận của một bị cáo trong “Phiên toà xét xử Bộ chính trị” tại Toà án Bang Berlin và về sau bị kết án 6 năm 6 tháng tù giam. 

Và sở dĩ tôi đã đọc kỹ bài phỏng vấn của SPIEGEL này và lược thuật một số nội dung từ đó – bên cạnh ý nghĩa lịch sử, chính trị của chủ đề (sang năm, 2019, sẽ là kỷ niệm 30 năm ngày sụp đổ của Bức tường Berlin) –  cũng là vì có chút nguyên cớ cá nhân: Tôi đã có hai dịp gặp gỡ cá nhân với Egon Krenz, lần đầu vào đầu thập niên 80, lúc Krenz còn là Bí thư thứ nhất Đoàn Thanh niên Tự do Đức (FDJ) và lần thứ hai vào đầu thập niên 90, lúc ông là tù nhân ở Trại giam điều tra Berlin-Moabit. Hai lần gặp gỡ này, nếu kể lại thật chi tiết, có thể sẽ nói lên được ít nhiều điều về tính vô định của lịch sử, về số phận của con người trong dòng chảy đó, bất kể vị trí cao-thấp, sang-hèn nào mà họ đã từng có. 

Tôi lại còn có một thầy giáo dạy tiếng Đức và một đồng nghiệp phiên dịch vong niên cũng đã từng có dịp tiếp xúc với Krenz, tuy nhiên trong một quãng thời gian dài và với cấp độ sâu sắc hơn rất nhiều so với hai lần gặp ngắn ngủi của tôi. Biết đâu, nếu đọc những dòng viết này, thầy sẽ sẵn sàng chia sẻ với quý bạn đọc quan tâm, như thầy đã từng chia sẻ cho tôi, những trải nghiệm vô cùng độc đáo và không kém phần kịch tính về nhà chính khách Egonz Krenz và xung quanh chuyến đi của ông trong một lần đến thăm chính thức Việt Nam, tất nhiên lúc đó CHDC Đức vẫn đang tồn tại.             

https://www.spiegel.de/plus/egon-krenz-ueber-den-mauerfall-sehen-sie-hier-einen-verbitterten-mann-nein-a-00000000-0002-0001-0000-000164759130 

Xu hướng sùng chuyên chế và cực hữu hiện nay ở Đức

Nước Đức năm 2016: Cứ trong mười người có một người mong muốn có một nhà độc tài dùng bàn tay sắt để trị vì đất nước. Mười một phần trăm người dân cho rằng người Do Thái có quá nhiều ảnh hưởng. Mười hai phần trăm cho rằng người Đức ưu việt hơn các dân tộc khác. Một phần tư người dưới độ tuổi 30 ở Đông Đức có thái độ thù ghét người nước ngoài. Và một phần ba người Đức cho rằng đất nước đang bị ngoại xâm (người nhập cư) đe doạ ở mức đáng báo động.

Những con số này trích từ một công trình điều tra dư luận dài hạn do Đại học Leipzig tiến hành mới công bố ngày hôm nay. Các thông tin và phân tích chi tiết đọc ở đây:

http://www.spiegel.de/panorama/gesellschaft/rechtsextremismus-studie-die-enthemmte-mitte-a-1097321.html

Mandarin versus Capitalist?

“Cho dù ai sẽ giành phần thắng đi nữa, đằng nào cũng sẽ không có một sự thay đổi căn bản trong đường lối chính trị ở Việt Nam. Vấn đề thật sự đặt ra là quốc gia này, dưới một hệ thống lãnh đạo xã hội chủ nghĩa mang tính hình thức, sẽ thúc đẩy quá trình tự do hoá kinh kế đã được khởi xướng nhanh chóng đến mức nào.”

(Wer immer sich durchsetzt – mit einem dramatischen Kurswechsel vietnamesischer Politik ist so oder so nicht zu rechnen. Eher geht es darum, wie schnell das Land unter formaler sozialistischer Führung die schon angestoßene Liberalisierung der Wirtschaft vorantreibt.)

SÜDDEUTSCHE ZEITUNG, 20.01.2016
http://www.sueddeutsche.de/politik/vietnam-mandarin-gegen-kapitalist-1.2826277

“Với chuyến thăm đầu tiên của một Tổng bí thư Việt Nam tại Hoa Kỳ vào tháng bảy năm ngoái, TBT Trọng đã phát tín hiệu rằng cả ông cũng ủng hộ việc mở rộng quan hệ với Mỹ. Quyết định gia nhập Quan hệ đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Mỹ làm nòng cốt cũng là một quyết định của toàn bộ giới lãnh đạo chính trị.”

(Mit dem ersten Besuch eines vietnamesischen Parteichefs in Amerika im vergangenen Juli hatte Generalsekretär Trong deshalb ein Zeichen gesetzt, dass auch er hinter dem Ausbau der Beziehungen zu Amerika steht. Auch die Entscheidung, der von Amerika dominierten Transpazifischen Partnerschaft (TPP) beizutreten, wird von der gesamten Führung mitgetragen.)

FRANKFURTER ALLGEMEINE ZEITUNG, 20.01.2016
http://www.faz.net/aktuell/politik/ausland/asien/vietnam-machtkampf-in-der-kommunistischen-partei-14023206.html

Trên đây là hai trích đoạn từ hai bài báo đăng trên hai tờ nhật báo lớn và có uy tín nhất ở Đức về sự kiện Đại hội Đảng 12. đang diễn ra ở Việt Nam. Các bài viết của các nhà phân tích quốc tế thiếu hẳn những giai thoại li kỳ, những câu chuyện thâm cung bí sử. Nhưng bù vào đó, với tư cách những người quan sát từ bên ngoài, dường như họ có một cái nhìn tỉnh táo hơn so với người trong cuộc.

Trong hai trích dẫn ở trên, cá nhân tôi đặc biệt quan tâm đến nhận định về hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa “mang tính hình thức” và về quá trình tự do hoá kinh kế như một xu hướng hiển nhiên. Liệu có thể – để tiếp nối mạch suy luận này và bỏ sang một bên mọi câu chuyện “hình thức”  – hình dung đến một sự chuyển đổi từ mô hình chủ nghĩa tư bản thân hữu sang một mô hình chủ nghĩa tư bản nhà nước, đang được khởi động trong những ngày này?

Nhà vật lý Ben Moore về dự án Sáng Thế

Moore

SPIEGEL: Ông Moore, ông vừa nói rằng Đấng Sáng Thế – nếu quả thực có một đấng như vậy – đằng nào cũng mắc khá nhiều lỗi. Còn có việc gì bị làm hỏng nữa, ngoài chuyện con người không được hưởng sự bất tử?

MOORE: Bảy tỷ năm nữa thì mặt trời sẽ chết, trước đó nó sẽ nung cho các đại dương trên hành tinh của chúng ta bị khô cạn, làm tiêu tan bầu khí quyển và huỷ diệt trái đất. Xem ra đây không phải là một chiến lược thật sự thuyết phục cho một công cuộc sáng thế thành công.

Nhà vật lý vũ trụ người Anh Ben Moore đã trả lời như vậy phỏng vấn của tạp chí SPIEGEL (Tấm gương), số ra vào ngày lễ Giáng sinh 24.12.2015 🙂 Very british.

Về giải Nobel Văn học năm 2015

FullSizeRender

„Căn cứ vào các tiêu chí của một khái niệm văn học kinh điển cho rằng chỉ có thể có một văn bản văn học một khi nó là một thành tựu mang tính cải biến thế giới và thực sự sáng tạo, được xây dựng nên bởi sức mạnh của trí tưởng tượng, năng lực mơ mộng và phẩm chất hư cấu thì việc trao giải vừa qua là một quyết định hoàn toàn nhảm nhí.“

Iris Radisch, nữ chủ biên chuyên mục văn hoá của tờ tuần báo „Die Zeit“ („Thời đại“) và một trong những nhà phê bình văn học Đức nhiều ảnh hưởng nhất, đã nói như vậy về giải Nobel văn học năm nay.

Xem bài „Plötzlich ist jeder Text ein Kunstwerk” (Bỗng nhiên mỗi một văn bản đều là một tác phẩm nghệ thuật“) đăng trên „Die Zeit“, số 42/2015, ra ngày 15/10/2015, trang 51

http://www.3sat.de/mediathek/?mode=play&obj=54485

Đất nước này không phải là đất nước của tôi nữa

„Tôi phải nói một cách hoàn toàn thành thật: Nếu mà bây giờ chúng tôi lại còn phải xin lỗi về việc mình đã bày tỏ một gương mặt thân thiện trong những tình huống hoạn nạn thì đất nước này không phải là đất nước của tôi nữa.“

(“Ich muss ganz ehrlich sagen: Wenn wir jetzt anfangen, uns noch entschuldigen zu müssen dafür, dass wir in Notsituationen ein freundliches Gesicht zeigen, dann ist das nicht mein Land.“)

Thủ tướng Đức Angela Merkel trong cuộc họp báo chung ngày hôm nay với Thủ tướng Áo Werner Faymann ở Berlin khi trả lời câu hỏi của một nhà báo liệu phải chăng thái độ thân thiện của bà đối với người tị nạn đã làm cho tình hình trở nên trầm trọng hơn.

“LÚC Ở NHÀ MẸ (CŨNG) LÀ CÔ GIÁO” – hay là về nguyên nhân thành công của học sinh Việt Nam tại Đức

Cách đây năm năm, khi Thilo Sarazin, nguyên Bộ trưởng Tài Chính Bang Berlin (Đảng SPD), lúc đó là thành viên Ban giám đốc Ngân hàng Liên bang Đức, đưa ra so sánh giữa thành công của học sinh Việt Nam ở Đức và kết quả học tập kém khả quan của học sinh có nguồn gốc xuất thân từ Thổ Nhĩ Kỳ, tuần báo “DIE ZEIT” (Thời đại) là một trong những cơ quan truyền thông lên án gay gắt nhất thái độ phân biệt chủng tộc được thể hiện qua “trò chia rẽ giữa người nhập cư tốt và người nhập cư xấu” (“Gute-Migranten-schlechte-Migranten-Spiel”) của tác giả này.

Thật đáng ngạc nhiên là cũng chính tờ “DIE ZEIT” trong số ra ngày hôm qua (11.06.2015) lại có hẳn bài khẳng định rằng “học sinh từ các gia đình Việt Nam đạt thành tích học tập tốt nhất ở các trường phổ thông Đức, còn học sinh gốc Thổ Nhĩ Kỳ thuộc nhóm có kết quả tồi tệ nhất”. Đây là bài kết thúc của một chuyên đề gồm ba kỳ về chủ đề năng khiếu/trí thông minh. Kỳ thứ nhất (28.05.2015) bàn về vai trò của giáo dục gia đình, đặc biệt ở giai đoạn trước khi nhập học phổ thông. Kỳ thứ hai (03.06.2015) nói về quan hệ giữa di truyền và trí thông minh. Kỳ cuối cùng bàn về ảnh hưởng của văn hoá đối với giáo dục, cụ thể trên nghiên cứu trường hợp (case study) học sinh có nguồn gốc Việt Nam ở Đức, mà câu hỏi định hướng đã được đặt ra ở kỳ mở đầu, in ngay trên trang nhất của số báo đó: “Tại sao trẻ em Việt Nam lại học giỏi hơn trẻ em Thổ Nhĩ Kỳ?”

Trong khuôn khổ một bài điểm báo tôi sẽ không thể đi sâu vào các nội dung ở hai kỳ trước, mà chỉ giới hạn vào việc tóm lược một số luận điểm căn bản nhất của “nghiên cứu trường hợp” ở kỳ ba, mà vì những lý do hiển nhiên, sẽ được người đọc tiếng Việt quan tâm hơn cả.

Trước hết cần nói ngay là bài báo này, đúng hơn là bài phỏng vấn với tiêu đề “Học luôn là ưu tiên hàng đầu” của Martin Spiewak, ký giả của “Die Zeit” và cũng là người chịu trách nhiệm cho cả chuyên đề, với GS Andreas Helmke, một chuyên gia về tâm lý phát triển và nghiên cứu giáo dục thực địa, tập trung vào việc giải thích nguyên nhân cho „thành tích xuất sắc“ – như Spiewak nhấn mạnh – của học sinh Việt Nam ở Đức, mà không giới thiệu cụ thể những kết quả khảo sát cập nhật, ngoài hai biểu đồ sau đây:

Bildschirmfoto 2015-06-12 um 16.50.13

Nguồn/Quelle: Die Zeit, Nr. 24, 11.06.2015, trang 33

Biểu đồ thứ nhất (ở trên) với tiêu đề “Người Việt Nam chăm chỉ” nêu con số thống kê toàn quốc ở Đức năm 2013 về tỷ lệ học sinh tham gia hệ tú tài (Gymnasium) trên từng nhóm dân cư, trong đó ở nhóm “không có nguồn gốc nhập cư” là 35,8 %, ở nhóm “có nguồn gốc nhập cư Thổ Nhĩ Kỳ” là 18,3 % và ở nhóm “có nguồn gốc nhập cư Việt Nam” là 58,0 %. Biểu đồ thứ hai (ở dưới) với tiêu đề “Học là ưu tiên hàng đầu” so sánh trình tự ưu tiên của sinh viên Đức và sinh viên Việt Nam cho các lĩnh vực học tập, gia đình, người yêu và thời gian rỗi (từ trái sang phải), mà xu hướng rõ ràng là sinh viên Việt Nam trước hết coi trọng việc học và gia đình, trong lúc đó sinh viên Đức lại dành ưu tiên hàng đầu cho người yêu và thời gian rỗi. Tuy nhiên bài báo không nói rõ nhóm sinh viên Việt Nam được điều tra dư luận ở đây là sinh viên Việt Nam ở trong nước hay sinh viên Việt Nam ở Đức.

Trước đây mấy năm Andreas Helmke – cùng với vợ ông, nhà nghiên cứu giáo dục gốc Việt Tuyết Helmke – đã tiến hành một nghiên cứu so sánh về năng lực học toán của học sinh bậc tiểu học ở Hà Nội và München. Trong bài phỏng vấn công bố ngày hôm qua, Helmke cho biết là trẻ em Hà Nội có khả năng làm toán vượt trội („haushoch überlegen“) so với trẻ em cùng lứa tuổi ở München, cho dù điều kiện học ở Việt Nam rất khó khăn, ví dụ thầy cô giáo ở đó thường phải đứng trước lớp có tới năm mươi học sinh. Có một khía cạnh mà Helmke nhấn mạnh là ngay ở những bài tập đòi hỏi sâu hơn về tư duy toán, học sinh ở Hà Nội vẫn đạt những kết quả tốt hơn so với học sinh München. Đây là một bằng chứng theo Helmke phủ nhận lại định kiến cho rằng ở châu Á chỉ thiên về „học gạo“. Thành tích về môn toán của trẻ em gốc Việt ở Đức cũng hoàn toàn tương xứng khả năng học toán của trẻ em Việt Nam ở trong nước, Helmke khẳng định rằng học sinh Việt Nam ở Đức thuộc nhóm học sinh có kết quả học toán tốt nhất. Trả lời câu hỏi của ký giả liệu có phải người Việt có một thứ „gien toán“ đặc biệt, Helmke cho rằng có một nguyên nhân văn hoá: Ở Việt Nam toán là môn học tối thượng („Königsfach“), ai giỏi toán người ấy dành được sự vị nể cao nhất, ở đó không thể có ai tỏ ra kiểu cách theo lối cho hay rằng mình là người mít đặc về toán, như người ta vẫn bắt gặp ở Đức – và như người viết những dòng này đã hơn một lần bắt gặp ở chính mình ☺

Bên cạnh các kết quả vượt trội trong môn toán, học sinh Việt Nam còn dành được điểm số cao hơn cả học sinh Đức ở môn … tiếng Đức, ít nhất là theo thông tin của ký giả Spiewak. Không đi sâu vào việc lý giải hiện tượng này, Helmke lưu ý đến nghịch lý rằng ở nhiều gia đình nhập cư Việt Nam bố mẹ không nói tiếng Đức, mà nói tiếng Việt với con cái, trong lúc theo mô hình hội nhập thành công được công nhận rộng rãi thì phụ huynh ở các gia đình nhập cư cần nói tiếng Đức ở nhà với con. Dẫn kết quả của hai đồng nghiệp là Nauck và Gogolin trong một nghiên cứu nghiên cứu so sánh giữa hơn 1500 bà mẹ gốc Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam và Đức, Helmke cho biết các điều kiện bề ngoài giữa hai nhóm nhập cư Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ khá giống nhau: thu nhập bình quân thấp, nói tiếng Đức kém, chỉ có ít sách ở nhà. Tuy nhiên trên thực tế tỷ lệ trẻ em gốc Việt theo học hệ tú tài lại nhiều hơn gấp hai lần so với trẻ em gốc Thổ Nhĩ Kỳ. Khác với cách lý giải phổ biến (chẳng hạn ở Thilo Sarrazin trước đây) cho rằng nguyên nhân nằm ở thái độ khước từ hội nhập của các gia đình Hồi giáo, Helmke cho rằng các bậc phụ huynh Thổ Nhĩ Kỳ – cũng như ở các nhóm cư dân nhập cư khác – rất coi trọng việc học hành của con cái. Điểm khác nhau căn bản trong quan niệm giáo dục và cách hành xử giữa các bậc phụ huynh Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam mới đây được đề cập trong một công trình của Aladin El-Mafaalani. Nhà nghiên cứu này đã tiến hành phỏng vấn hai nhóm phụ huynh nói trên và đi đến kết quả: Các bậc bố mẹ Thổ căn bản phó thác cho nhà trường, đối với họ thầy cô giáo là các chuyên gia có trách nhiệm dạy và giáo dục con mình; các bậc bố mẹ Việt ngược lại cho rằng mình có cùng trách nhiệm trong thành công học tập của con cái, họ coi mình là người đồng-giảng dạy, đồng-huấn luyện viên và nhìn nhận vị trí của thầy, cô giáo nhiều hơn ở vai trò của người trọng tài. Ở chỗ này Helmke đưa ra một ví dụ minh hoạ khá bất ngờ ngay cả với người trong cuộc: Một bài hát Việt Nam „rất nổi tiếng mà tất cả người Việt Nam đều biết, kể cả ở Đức“, trong đó có câu „Zu Hause ist Mutter eine Lehrerin“, dịch ngược ra tiếng Việt: „Lúc ở nhà mẹ là cô giáo“. Ghi chú của người điểm báo: Chậm nhất đến đây không thể không nhận ra phần đóng góp của bác gái Helmke!

thumb_LopMot-43_1024

„Lúc ở nhà mẹ là cô giáo“ (Ảnh chỉ có tính chất minh hoạ!)

Liên quan đến chủ đề chung của loạt bài là năng khiếu/trí thông minh, trong bài phỏng vấn Spielwak cũng đặt ra câu hỏi về vai trò của năng khiếu trong văn hoá Việt Nam. Helmke cho rằng đây là một điểm hết sức trọng yếu. Các bậc phụ huynh Đức và cả Thổ Nhĩ Kỳ thường quy học lực kém của con cái vào nguyên nhân thiếu năng khiếu. Ở người Việt – cũng như đối với người Trung Quốc, Hàn Quốc hay Nhật Bản – có một quan niệm hoàn toàn khác, như các kết quả nghiên cứu so sánh văn hoá của các nhà nghiên cứu Mỹ Stevenson và Stigler đã chỉ ra cách đây hơn hai mươi năm. Theo đó trong các nền văn hoá giáo dục (Đông) Á, năng khiếu chỉ đóng một vai trò thứ yếu cho thành công trong học tập, và bất cứ ai cũng có thể thành công nếu đủ nỗ lực. Mặt trái của truyền thống này là những học sinh ít năng khiếu và phụ huynh của họ sẽ khó có thể biện hộ sự thất bại trong học tập bởi lý do này.

Helmke cũng lưu ý đến những tương đồng giữa thành công của học sinh Việt Nam ở Đức và thành công học tập nói chung của Asian Americans (người Mỹ gốc Á) ở Hoa Kỳ hay ở Canada. Mẫu số văn hoá của các hiện tượng này chính là di sản Nho giáo trước sau vẫn chi phối sâu sắc tư duy của người Việt – cũng như người Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Singapore – bất luận họ đang sống ở đâu, ở Việt Nam, ở Hoa Kỳ hay ở Đức. Trong truyền thống tư duy này không chỉ học vấn đóng một vai trò then chốt, mà cả thái độ kính trọng trước người lớn tuổi, đặc biệt đối với bố mẹ và thầy cô giáo và nghĩa vụ hoàn thành chữ hiếu bằng cách mang điểm tốt về nhà.

Luận điểm về vai trò giá trị của Nho giáo đương nhiên không có gì mới. Điều đáng suy nghĩ ở đây là nhận xét của Helmke rằng thành công của học sinh Việt Nam dường như sẽ được đảm bảo tốt nhất chừng nào mà gia đình của họ vẫn còn duy trì được nền văn hoá xuất xứ. Nhận xét này hoàn toàn tương ứng với một kết quả nghiên cứu thực nghiệm khác mà tôi đã có dịp lược thuật trước đây: Theo Olaf Beuchling, một nhà nghiên cứu giáo dục ở Hamburg đã theo dõi kết quả học tập của học sinh Việt Nam từ hơn mười lăm năm nay, không thể đưa ví dụ của học sinh Việt Nam để làm mẫu mực cho các nhóm nhập cư khác. Chính sách hội nhập của Đức nhắm tới đối tượng chủ yếu là trẻ em Thổ Nhĩ Kỳ và xuất phát từ hình dung rằng hội nhập càng tốt thì thành công trong giáo dục càng cao. Kết quả khảo sát của Beuchling cho thấy có một quy trình diễn ra ngược lại đối với người Việt: càng thích ứng với văn hoá Đức, thành công của học sinh Việt Nam lại càng giảm sút. Theo ông, “người Việt ở thế hệ thứ hai và thứ ba ở Đức đã đánh mất một phần chuẩn mực ứng xử của Nho giáo” và kết quả nhãn tiền là: kết quả học tập của họ đi xuống – giống như các học sinh Đức.

Tâm hồn Nga hay là „Một cộng một bằng ba“

IMG_1486

Thực ra không được phép bỏ phí bất cứ một phút nào vì đang phải hoàn thành gấp một hợp đồng công việc, nhưng vừa đọc bài phỏng vấn có tiêu đề „Một cộng một bằng ba“ với đạo diễn sân khấu Đức Peter Stein (77 tuổi) trên tạp chí SPIEGEL („Tấm gương“) số ra hôm nay tôi không thể không bỏ ra ít nhất là 30 phút (than ôi, thời gian là vàng bạc!) để chia sẻ lại ở đây một vài ý tưởng của ông với các bạn quan tâm.

Trước hết, Peter Stein đối với tôi là đạo diễn của vở bi kịch „Faust“ của Goethe, và không phải ở một lần dàn dựng bất kỳ nào đó, mà là với dự án ra mắt tại EXPO 2000, với tất cả 12111 câu thơ của nguyên bản tác phẩm và với một thời lượng 21 tiếng đồng hồ trên sân khấu. Hồi đó, chắc cũng vì một lý do công việc nào đó, tôi đã không đến Hannover để tận mắt chứng kiến sự kiện này, để sau này chỉ có thể xem lại trên DVD. Bộ đĩa này bây giờ vẫn nằm trên bên viết của tôi, như một lời cảm thán „Hỡi thời khắc, xin hãy dừng chân, ngươi đẹp quá chừng!“ („Zum Augenblicke dürft’ ich sagen: Verweile doch, du bist so schön!“, Goethe, Faust, V. 11581-11582).

Vâng, sở dĩ SPIEGEL có bài phỏng vấn này với Peter Stein là vì ông vừa từ Nga quay trở về và vừa dàn dựng ở Matxcơva vở kịch nói „Boris Godunow“ của Puschkin và vì Stein được coi là một „Russenversteher“, một khái niệm khá trái khoáy trong tiếng Đức, lành ít dữ nhiều, chỉ tạm dịch là „người hiểu (được) người Nga“. Để nói thật nhanh cho các bạn không phải là fan của Putin an tâm, bài này không nằm trong vệt của những „Russenversteher“ Đức nổi tiếng khác như Gysi hay Schmidt. Stein không hề là bạn của Putin, không khí sợ hãi bao trùm nước Nga hiện nay được ông coi là tệ hại không kém so với thời Breschnew. Nhà chỉ huy âm nhạc cổ điển người Nga nổi tiếng thế giới nhất hiện nay Walerij Gergijew bị ông coi là một thuộc hạ của Putin và „một kẻ nguy hiểm“, tương tự như vậy ông cũng nhận xét về một người bạn thân khác của Putin, siêu sao âm nhạc opera Anna Netrebko.

Điều khiến tôi quan tâm nhất là những gì ông nói về „tâm hồn Nga“ trong bài phỏng vấn này. Stein cho biết chính người Nga thường hỏi ông tại sao Stein lại có thể hiểu được „tâm hồn Nga“ đến mức như vậy. Và Stein cho biết, câu trả lời của ông luôn luôn là: „Các vị có biết không, tâm hồn Nga chẳng có khác gì nhiều so với những tâm hồn khác. Các vị chỉ tưởng tưởng ra như vậy thôi và cứ làm to chuyện lên, việc quái gì phải thế.“

Nói vậy, mà có lẽ không phải như vậy. Vì tất cả những trải nghiệm mà Stein kể ra sau đó trong bài phỏng vấn lại là những bằng chứng hùng hồn nhất về việc có một thứ „tâm hồn Nga“ thật sự!

Nhận xét đầu tiên của Stein, một chuyên gia sân khấu hàng đầu, về người Nga mà tôi muốn dẫn lại ở đây là dân tộc này „yêu sân khấu đến mức điên khùng“. Đấy là câu kết luận cho một câu chuyện mà Stein kể về dịp kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Anton Tschechow ở Taganrog, lần đó Medwedew (tôi chưa kịp tra cứu lúc đó là Tổng thống hay Thủ tướng Nga) đã đi cùng ông và đã dành thời gian ba tiếng đồng hồ để thảo luận say sưa về kịch nghệ. Stein có nói thêm là ông không biết một chính trị gia nào ở Đức mà lại có hiểu biết sâu sắc như vậy về sân khấu (OK, nữ Thủ tướng Đức đương nhiệm Angela Merkel không năm nào bỏ qua lễ hội nhạc kịch Wagner ở Bayreuth cả, nhưng có thể đấy là một ngoại lệ! – chú thích của THQ).

Giai thoại về Medwedew có thể hiểu theo nhiều cách (không hiếm các chính trị gia độc tài vẫn say mê sân khấu hay sau này là điện ảnh, như gia đình Kim ở Bắc Triều Tiên chẳng hạn), nhưng tôi cho rằng Stein thuật lại câu chuyện này một cách chân thành, không hề có ý xỏ xiên. Ấn tượng lớn nhất trong cuộc đời hoạt động sân khấu của Stein là lần ông dàn dựng vở „Ba chị em“ của Tschechow vào năm 1989 ở Matxcơva. Stein kể, phòng khán giả chỉ có 990 ghế, nhưng số lượng người đến xem đã lên tới 1500, khán giả ngồi la liệt cả trên lối đi, bên trái và bên phải sân khấu. Khi câu nói cuối cùng của vở kịch vang lên „Giá như chúng ta biết trước được điều đó, giá như chúng ta biết trước được điều đó“, tấm màn nổi tiếng với hình con chim hải âu được hạ xuống. Stein kể là tiếp sau đó không có bất kỳ điều gì xảy ra, chẳng hề có một tiếng hoan hô, diễn viên nhìn đạo diễn, đạo diễn nhìn qua cánh gà. Màn lại được kéo lên, các nghệ sỹ lại cúi chào. Vẫn chẳng hề có một tiếng vỗ tay. Lúc đó Stein nói: „Xin bật ánh sáng lên!“ Phòng khán giả lúc đó mới được bật sáng, và lúc này Stein và các diễn viên của ông mới nhận ra: „Die heulten alle wie die Kälber!“ Tôi lại đành trích nguyên văn tiếng Đức câu này, nếu dịch thành nghĩa đen ra tiếng Việt thì sẽ khá ngô nghê: „Họ khóc nức lên như một đàn bê vậy“ (có thời gian sẽ xin nhuận sắc lại câu dịch này, hoặc trước mắt xin nhờ bạn đọc nào có cao kiến tìm giúp một cách diễn đạt khác phù hợp hơn). Khán giả cứ nức nở như vậy, tối thiểu trong năm phút. Sau đó mới dần dần có tiếng vỗ tay, và sẽ vỗ tay không ngừng trong suốt 45 phút đồng hồ – xin thú nhận là mắt của người viết điểm báo chỗ này cũng hơi bị cay cay 😉

Than ôi, nhìn đồng hồ thì tôi nhận ra là đến thời điểm này mình đã tiêu đúng 1h30 phút cho mấy dòng lược thuật dự kiến không được phép đầu tư quá 30 phút này. Thôi, mặc kệ bản dịch đang chờ vậy, xin kể tiếp hai chi tiết nữa.

Chi tiết thứ nhất liên quan đến kinh nghiệm làm việc của Stein với diễn viên Nga. Ông nói rằng diễn viên, cụ thể ở đây là nữ diễn viên Nga trình diễn với một thứ cảm xúc mà người ta chỉ có thể hình dung ở vùng Đông Âu. Ấn tượng đầu tiên của ông là họ cường điệu một cách khủng khiếp, cường điệu một cách rùng rợn, đến mức không thể nào chịu đựng nổi. Và không ai khác, chính Anton Tschechow là người đã đưa ra những nhận xét không khoan nhượng như vậy về phong cách biểu diễn Nga. Nhưng sau 45 phút (lại 45 phút!) Stein đã hoàn toàn bị quy phục bởi thứ năng lượng cảm xúc này, vì nó đã đụng vào đến cả thân thể, thấm vào máu người chứng kiến. Stein nhận xét tiếp, không có một nền văn hoá diễn xuất nào, kể cả nghệ thuật diễn xuất Mỹ, có thể so sánh được với mức độ đồng cảm (của diễn viên với vai diễn) như trong sân khấu Nga. Và „tội ác“ của Bertolt Brecht (Stein nói nguyên văn như vậy – các bạn từng học ngành văn chương Đức như tôi hãy ghi chép lại nhé) là đã cấm đoán quá trình đồng cảm này, mặc dù chính Brecht, ngay cả trên sân khấu gián cách của mình, đã liên tục sử dụng phương cách đó!

Chi tiết thứ hai liên quan đến một giai thoại từ tiểu sử của Peter Stein. Thời thơ ấu „Iwan“ đối với ông đương nhiên là kẻ thù, lúc chiến tranh kết thúc Stein mới bảy tuổi. Có một điều kỳ lạ là trên một tấm ảnh chụp từ lúc 4 tuổi cậu bé Peter Stein lại mặc một tạp dề Nga. Và sau này bạn học thời phổ thông, kể cả thời sinh viên của ông, không gọi ông là „Peter“, mà là „Pjotr“, tên gọi Nga cho „Peter“. Stein không giải thích được việc này, cũng có thể là do xương gò má của ông, cũng có thể là – tôi vẫn tiếp tục trích dẫn Stein – đến 89 phần trăm người Đức ở xứ Phổ (Preußen) có nguồn gốc Xlavơ. Và (vẫn là lời của Stein) phải dùng kính hiển vi mới soi ra được cái gọi là chất „Arische“/„Aryan“!

Xin chấm dứt câu chuyện ở đây, bây giờ là 13:03 phút, tôi đã tiêu hoang hơn 2:30 tiếng đồng hồ cho câu chuyện về „tâm hồn Nga“ xa xôi này rồi. Như đã nói, không phải vì tôi là một fan của Putin. Mà cũng không hẳn vì câu chuyện nước Nga đương đại hay tâm hồn Nga. Mà có lẽ, gần như là chắc chắn vậy rồi, vì ẩn ức bị tổn thương của một thứ „tâm hồn Việt“ ẩn khuất đâu đó trong mình. Thứ „tâm hồn Việt“ này, nếu có – chẳng hạn như ở một lời có cánh của cụ Phạm Quỳnh về „tiếng ta còn, nước ta còn“ – chắc cũng chỉ là một huyễn tưởng hay một sự bịa đặt như nhận xét của Stein về „tâm hồn Nga“. Nhưng „tâm hồn Nga“ ấy ít nhất cũng đã có một kẻ chiêu tuyết. Và kẻ chiêu tuyết ấy lại là một người Phổ, một người Đức „Bio“ một trăm phần trăm, như người ta thường nói.

Berlin, 11/04/2015, 10:30 – 13:06 h