“Nhớ thương cách vời, ơi biển chiều nay” – Hồi ức về nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ (1936-2022)

Nguyễn Tài Tuệ đối với tôi – có lẽ như đối với phần lớn thính giả âm nhạc thuộc cùng thế hệ, sinh ra và lớn lên ở miền Bắc – trước hết là tác giả của hai ca khúc „Xa khơi“ và „Tiếng hát giữa rừng Pác Bó“. Ấn tượng về bài „Xa khơi“ đương nhiên gắn liền với giọng hát của Tân Nhân (tôi không nghe, hay chưa có dịp nghe bất cứ ca sĩ nào khác hát bài này). Còn „Tiếng hát giữa rừng Pác Bó“, với riêng tôi, lại liên quan nhiều hơn đến một kỷ niệm cá nhân, trong một dịp cùng gia đình bên ngoại về thăm quê ở Hải Hậu, Nam Định, cách đây cũng đã hơn mười lăm năm.

Lần đó, sau khi cơm nước xong, cả nhà kéo sang một quán Karaoke bên cạnh khách sạn, chủ yếu là để nghe T. hát. T. là con gái em trai của vợ tôi, cháu lúc đó đang là sinh viên thanh nhạc tại Nhạc viện Hà Nội. „Tiếng hát giữa rừng Pác Bó“ nổi tiếng không kém „Xa khơi“, có lẽ còn được phát nhiều hơn trên đài phát thanh, truyền hình và chắc chắn tôi đã nghe không chỉ một lần trước đó. Nhưng được nghe live, thưởng thức sự thể hiện trực tiếp của nghệ sĩ vẫn là một trải nghiệm đặc biệt, nhất là T. lại có một giọng hát rất đẹp và chuyên nghiệp, được đào luyện bởi một nữ ca sĩ hàng đầu, đã thành danh với chính ca khúc này.

Khác với „Xa khơi“, một bản tình ca đôi lứa trên nền lịch sử chia cắt bi thảm của đất nước, „Tiếng hát giữa rừng Pác Bó“ thực ra thuộc dòng tác phẩm tuyên truyền, hay „Lãnh tụ ca“, và theo lẽ thường sẽ bị thời gian đào thải rất nhanh chóng. Cũng chính vì vậy mà tôi đã khá ngạc nhiên khi chứng kiến một cô gái còn rất trẻ, thuộc thế hệ „A-còng“, đã hát ca khúc này với tất cả cảm xúc nồng cháy, chân thành, gợi nên cả một trời liên tưởng trong lòng người nghe về một không-thời gian đặc biệt, chứa chất biết bao những tình cảm trong sáng, tin cậy, hào hùng, lãng mạn…

Tôi không còn cơ hội để bày tỏ những ấn tượng như thế này với nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ nữa. Và trong một chuyến bay từ Berlin về Hà Nội vào cuối xuân, đầu hè năm 1985, khi ngẫu nhiên của số phận đã xếp cho tôi ngồi ngay cạnh ghế của ông, được trò chuyện với ông trong suốt cả chuyến bay dài, tôi cũng đã không chia sẻ chúng với ông. Và rất có thể là vào thời điểm đó tôi cũng chưa hề có những cảm xúc, những cảm nhận như vậy về tác phẩm của nhạc sĩ.

Đó là chuyến bay về nước sau khi tốt nghiệp của tôi, sau gần tám năm đèn sách ở Leipzig. Trong những câu chuyện với ông, tất nhiên không diễn ra liên tục, mà bị ngắt quãng nhiều lúc, tôi nhớ chủ yếu mình đã hỏi ông về vùng quê chung ở Nghệ Tĩnh, về những người tài trong dòng họ của ông ở Thanh Chương (có thể tôi đã kể với ông những hồi ức về GS Nguyễn Tài Cẩn), về vùng quê Bạch Ngọc nơi tôi sống thời thơ ấu với ông bà nội và là một tụ điểm của trí thức, văn nghệ sỹ khu bốn thời kỳ kháng chiến chống Pháp trước đó. Tôi nhớ ông cũng đã hỏi tôi về đề tài luận án tốt nghiệp của tôi, về „Faust“ của Goethe, về „Truyện Kiều“ của Nguyễn Du. Và ông cũng đã kể cho tôi nghe về thời kỳ du học của ông ở Triều Tiên, và chắc cũng vì liên quan đến mạch thể loại trường ca của „Truyện Kiều“, tiểu thuyết tài từ – giai nhân thời Minh-Thanh v.v. mà ông đã nói cho tôi nghe về những truyền thống tự sự trong văn học Triều Tiên cổ điển, về cái gốc văn hiến của nó…

Gần bốn thập kỷ đã trôi qua từ lần gặp gỡ vô tình này, phần lớn các chi tiết trong đó đã trở nên hoàn toàn nhạt nhòa trong ký ức. Và mặc dù sau đó có gần hai năm sống ở Hà Nội, trước khi trở lại Đức, tôi đã không có cơ hội và cơ duyên được gặp lại ông. Nhưng mỗi lần được nghe một trong hai ca khúc đã trở thành bất tử của ông (thật tiếc tôi không biết đến một tác phẩm khác của Nguyễn Tài Tuệ) tôi lại nhớ đến kỷ niệm này. Đặc biệt, như đã nói, trong cái lần đã cách đây hơn mười lăm năm, ở bên bãi biển Hải Thịnh, khi được nghe cô cháu gái hát „Tiếng hát giữa rừng Pác Bó“ của ông.

Nếu được lùi lại thời gian gần bốn thập kỷ về trước, nếu lại được ngồi bên ông trong một chuyến bay xuyên lục địa, xuyên thời gian, có thể tôi sẽ đặt cho ông cái câu hỏi mà ngày trước tôi chưa hỏi ông, chưa thể có để hỏi ông: Liệu có thể có một thứ chân lý, một thứ sự thật riêng của âm nhạc, vượt lên những sở chỉ cụ thể của ca từ, của ngôn ngữ, vẫn tiếp tục khiến cho ta mãi vương vấn, hoài cảm, gợi nên những niềm hy vọng, ngay cả khi cái thời đại mà nó phản ánh, tin tưởng và phụng sự đã lùi hẳn vào quá khứ?

Nương đồi bát ngát
Gió ngàn vờn mây nắng chiều về đây
Nhớ thương cách vời, ơi biển chiều nay…“

Berlin-Biesdorf, ngày 11.02.2022

Giấc mơ

Sáng sớm nay (26.01.) tôi có một giấc mơ. Trong mơ tôi đã gặp lại cha mình. Từ ngày ông mất, cách đây đã mười hai năm, tôi rất ít khi chiêm bao thấy ông. Và trong giấc mơ sáng nay, ông hiện lên trước tôi không phải như một cụ già đã tám mươi sáu tuổi như vào thời điểm ông qua đời, mà với hình ảnh của ông vào hơn hai mươi sáu năm trước, lúc ông cùng mẹ tôi sang thăm chúng tôi ở Berlin và cùng chứng kiến sự ra đời của con trai chúng tôi.

Chính vì ông xuất hiện dưới dáng vẻ còn khá trẻ như vậy, chỉ hơn độ tuổi của tôi bây giờ không đáng kể, và với một nụ cười rất tươi, nên thoạt đầu tôi không nhận ra ông ngay. Không gian gặp gỡ là một địa điểm nửa thực nửa hư, lẫn lộn giữa Đức và Việt Nam, Berlin và Nghệ An quê tôi (không, không phải ở Hà Nội). Lúc đó hình như tôi đi làm về và xuống sớm một ga tàu (cảnh này chắc chắn là ở Berlin rồi), tôi quyết định rẽ qua căn hộ cũ trước khi trở về ngôi nhà hiện tại.

Trong giấc mơ không gian mà tôi đang có mặt hẳn là khu trung tâm phố cổ quận Spandau, căn hộ cũ mà gia đình tôi đã sinh sống gần mười lăm năm nằm ở ngay gần đó. Tôi đang đi và thấy cha tôi đi ngược lại về phía tôi. Tuy ngỡ ngàng, nhưng sau mấy tích tắc tôi đã nhận ra ông. Tôi ôm chầm lấy ông và oà lên khóc nức nở. Hình như lúc đó tôi có nói tôi rất nhớ ông và ngay trước đó đã chợt nghĩ đến việc ông sẽ về thăm tôi. Cha tôi không nói điều gì, hoặc tôi không còn nhớ được lời của ông nữa, nhưng tôi nhớ ông cười rất tươi. Ngay sau đó giấc mơ của tôi cũng chấm dứt. Trong trạng thái còn nửa tỉnh nửa mê lúc đó tôi nghĩ cha vẫn còn sống, chỉ có mẹ tôi là đã mất (bà mất trước cha tôi bảy năm). Chỉ sau khi đã tỉnh ngủ hoàn toàn và định thần lại, tôi mới ý thức mình đang ở đâu và về thời khắc hiện tại.

Ở trên tôi có viết không gian gặp gỡ lại cha tôi có một phần là ở Đức, có một phần lại như ở Đô Lương, Nghệ An, nơi tôi sống toàn bộ thời thơ ấu cho tới khi lên đường ra Hà Nội học tiếng Đức, khi vừa tròn mười bảy tuổi, trước khi sang Leipzig du học. Lúc đang ở trong giấc mơ, tôi chưa ý thức được điều này ngay. Chỉ sau khi đã tỉnh dậy và ngẫm lại, tôi mới suy ra lúc đó mình đang đi về hướng ngôi nhà cũ của cha mẹ tôi ở Đô Lương, mà không phải là đi về hướng căn hộ cũ của gia đình tôi ở Spandau. Ngôi nhà xưa của cha mẹ tôi nằm ở phía đầu làng Lạc Sơn, ngay gần trường cấp 3 Đô Lương 1, nơi cha mẹ tôi đã có hàng chục năm giảng dạy và cũng là ngôi trường của cả hai anh em tôi. Và điểm xuất phát của tôi lúc đó hẳn phải là từ cổng ngôi trường cũ, mặc dù trước đó tôi vừa rời bến tàu, có thể là ga tàu điện ngầm “Phố cổ Berlin-Spandau”, và lúc gặp cha tôi là trên không gian trung tâm phố cổ Spandau.

Cách đây mới chỉ ít hôm em trai tôi có về lại Đô Lương để thắp hương cho ông bà nội của tôi, và em tôi cũng rẽ qua ngôi nhà cũ của gia đình và chụp một tấm ảnh ở đó. Có thể vì cái nguyên cớ này mà ngôi nhà ở quê đã thoáng hiện về trong giấc mơ của tôi. Và cả sự xuất hiện của không gian phố cổ ở Spandau cũng có những nguyên do rất thực. Từ năm 2013 gia đình tôi đã rời khỏi căn hộ ở đó – nằm phía cực Tây của Berlin – để chuyển về nơi ở mới tại làng Biesdorf, có thể gọi là một địa danh ở vùng cực Đông của Berlin. Thời đầu, lúc mới chuyển nhà, đã không có ít lần tôi đi ô tô nhầm hướng về Spandau. Mười lăm năm sống ở Spandau gia đình tôi đã có hai gia đình hàng xóm rất thân thiết, là hai đôi vợ chồng già hưu trí người Đức. Vào những dịp Thánh lễ Nikolaus chẳng hạn bố mẹ có thể quên nhưng hai cụ bà không bao giờ quên việc giấu quà vào giày của Phúc, con trai chúng tôi, đặt trước cửa ra vào căn hộ. Một trong hai cụ ông đã mất trước khi chúng tôi rời Spandau. Cụ ông còn lại và vợ của ông cứ ngỡ ngàng khi nghe quyết định của vợ chồng tôi sẽ chuyển về Đông Berlin để ở, và nhất lại là về quận Marzahn – một địa danh đối với tầng lớp thị dân Tây Berlin chắc cũng chỉ văn minh hơn … Siberia một chút!

Một thời gian sau khi chuyển nhà, chúng tôi có mời hai cụ về thăm nơi ở mới, và sau khi đến thăm các cụ mới khen quyết định của chúng tôi đưa ra trước đó là sáng suốt. Bẵng đi một thời gian dài sau đó tôi mất dần liên lạc với các cụ, viết thư hay gọi điện đều không tiện nữa. Có một lần tôi có việc ở Spandau và đỗ xe một lát phía trước căn hộ cũ để ngắm nó từ xa thì thấy ông bà cụ hàng xóm cũ đi sát qua xe tôi, cụ ông đã rất yếu, phải tựa vào một chiếc xe đẩy để bước đi rất chậm, cụ bà đi theo sau. Dĩ nhiên lúc đó tôi đã không thể mở cửa xe để ra chào hai cụ. Lần gặp cuối cùng này diễn ra cách đây dễ chừng cũng đã ba, năm năm về trước.

Vâng, tôi đã nghĩ vẩn vơ như vậy sau giấc mơ ban sáng, để tự lí giải những điều thực ra không thể nào lí giải.

Điều quan trọng hơn cả là tôi đã được gặp lại cha, được oà lên khóc (điều chắc chẳng còn bao giờ xảy ra trong trạng thái tỉnh), được ôm chầm lấy ông và nói tôi rất nhớ ông. Và được còn đọng lại trong tâm trí nụ cười rất tươi, rất hiền của ông, có lẽ đủ toả sáng cho hết cả mùa đông này, mùa đông năm sau, tất cả các mùa đông còn lại.

Berlin-Biesdorf, 27.01.2022, 00:48 h

Nguyễn Thị Thu Lan (1928-2003), Đại gia đình cụ Thức

Ba chị em gái (từ trái sang phải: Thanh Thúy, Bạch Đào, Thu Lan)

Thế hệ cháu Phúc, Thùy An, Thùy Dương gọi cha mẹ tôi bằng cụ.

Cha tôi mất năm 1950. Hồi đó anh tôi là trưởng công an ở Nghi Lộc. Đám tang cha tôi, người đi tiễn rất đông (nếu lùi lại bốn năm sau thì nguy hiểm vì nhà tôi đều bị quy là địa chủ, đối tượng của cách mạng ruộng đất). Tôi lúc ấy đã hơn 20 tuổi, thế mà còn ngây dại. Ý niệm về cha tôi cũng mờ nhạt. Chỉ nhớ cha là người hay đọc sách, tư lự và thường dùng ngón tay trỏ viết chữ trong khoảng không. Tuy không có bằng tú tài, cử nhân như các bác trong họ – bác Tú Đồng, bác Tú Hai – nhưng cha đã học trường Quốc tử giám Huế nên cha là người học giỏi chữ nhất trong họ, phụ trách viết gia phả cho họ Nguyễn Đình. Cha tôi tính sạch sẽ, thích lau chùi và thay đổi vị trí trong nhà, và đặc biệt chăm vườn hoa cây cảnh. Bao nhiêu năm qua, vật đổi sao dời, nhưng tôi vẫn nhớ như in “vườn hoa” (tên gọi để phân biệt vườn rau và cây ăn quả) mà cha tôi thiết kế chăm sóc. Vườn bao bọc bởi hàng rào ngâu, cha thường dùng kéo xén cây tạo dáng rất đẹp. Trong vườn nào lựu đỏ, lựu trắng, khóm nhài, luống huệ trắng thơm ngát. Chính giữa vườn, một bể cá có hòn non bộ với chú ngư, chú tiều, cây sinh, cây si… Trong làn nước trong xanh, lập lờ những cánh rêu, từng đôi cá vàng, cá bạc vảy lấp lánh, đuôi vây xòe ra, bơi lượn lờ, đôi mắt mở tròn vo. Giáp với vườn hoa là cái sân gạch rộng mênh mông, mỗi đêm trăng sáng mùa hè, khi có khách đến ăn cơm, hoặc con cái về đông lại dọn bàn ăn ra ngoài đó. Từng cụm chuyện trò với nhau rôm rả dưới ánh trăng mát mẻ, trong bầu không khí tịch mịch của vùng quê.

Cha tôi sống lặng lẽ, hơi nhút nhát. Đối với chính quyền thực dân phong kiến lúc bấy giờ, thái độ của cha là “kính nhi viễn chi”. Người chỉ quanh quẩn trong nhà, đi chơi các bác, các chú và đến nhà thờ họ Nguyễn Đình những ngày giỗ tết. Còn quan hệ đối ngoại là mẹ tôi.

Mẹ tôi xuất thân trong gia đình quan lại nghèo. Ông ngoại tôi đậu cử nhân (chữ Nho) và làm tri huyện, tục gọi là cụ huyện Làng Chay, theo tên gọi của nơi mà ông bà ngoại tôi ở. Ông ngoại tôi mất trước khi tôi sinh ra. Ông được thăng tri phủ, nhưng theo phong trào Cần Vương nên bị chính quyền thực dân phong kiến bắt và ốm chết. Còn bà ngoại tôi thường đến chơi với gia đình tôi. Chính bà ngoại đã giúp đỡ khi mẹ trở dạ tôi. Hồi ấy tôi quá bé nên không hình dung lại được bà thế nào.

Mẹ tôi là người chăm chỉ làm việc từ lúc còn bé thơ. Cụ ngoại là người nghiêm khắc nên mới có mấy tuổi mẹ đã cùng dì Giáp, tức chị mẹ tôi, đi cắt cỏ. Mẹ về làm bạn với cha lúc 11 tuổi, cha 13 tuổi. Bà nội đi chợ còn phải mua quà cho cả hai người. Khi lớn hơn một tí, hai người bị các người quản gia trong gia đình bà nội làm cho nhiều phen vất vả.

Mẹ là người vừa nhân hậu, vừa có bản lĩnh. Mẹ là cột trụ trong gia đình, lo cuộc sống cho một đại gia đình mười mấy người cả con, cháu, người ở. Nhờ tấm lòng thương người, sẵn lòng giúp đỡ cưu mang người khác, sống chan hòa với mọi người, nên những lúc gia đình có những bước ngoặt, khó khăn thì được sự thông cảm, chia sẻ, giúp đỡ của người khác. Sau trận ốm của cha tôi gia đình khánh kiệt. Cố Chắt Hệ đã cho mẹ tôi vay vốn để kinh doanh nghề sản xuất nước mắm nên đã khôi phục lại cơ đồ. Mẹ ít khi ở nhà, nếu không ra Hải Phòng áp tải hàng hóa hoặc lấy tiền – nhà buôn lớn là bà Sinh Vinh lúc bấy giờ thường bán được hàng rồi mới trả tiền – thì cũng vào Phan Rang, nơi dì Giáp ở. 

Những lúc mẹ ở nhà thì cũng thường đi đây đi đó, tìm các mối hàng để mua, khi được giá thì bán buôn hoặc bán lẻ cho người khác. Tuy bận bịu việc làm ăn nhưng bao giờ mẹ cũng dành thời gian giáo dục con cái. Việc giáo dục của mẹ tôi cũng nhẹ nhàng, chỉ bằng những câu chuyện tâm tình, hoặc những câu ca dao tục ngữ để truyền lại cho chúng tôi nhân cách sống làm người. Mẹ tôi không biết chữ nhưng khi nào tối đến, những lúc người ở nhà, đều kiểm tra chúng tôi đã thuộc bài chưa mới cho đi ngủ. Mẹ tôi luôn chăm lo việc học cho ba chị em tôi: Đào, Lan, Thúy. Lớp các chị Nhàn, chị Phi, chị Hiếu vì hoàn cảnh gia đình nghèo, đông con nên phải chịu cảnh thất học. Còn chị Lộc thì mẹ tôi cho dì Giáp làm con nuôi lúc nhỏ nên chị cũng chỉ được học ít rồi giúp dì bán hàng, làm việc nhà từ còn ít tuổi. Tôi còn nhớ, mẹ tôi gửi chị em tôi cho chú Mai Khánh dạy ở nhà chú, rồi học thầy Đồ Điệt làm gia sư ở nhà chú Bang Lượng. Hè đến chúng tôi được học hè. Khi thì học với anh Ký con bác Chắt Nga, khi thì học với chú Khang con chú Tự. Hồi tôi học trường làng, những lúc mưa gió mẹ gửi tôi vào nhà bà Bang Kiều, ăn cơm trưa ở đấy. Cơm và cá từng nồi lớn, ăn no thì thôi.

Những lúc chúng tôi làm người phiền lòng, người có đánh chị em tôi bằng con roi vót bé xíu, vừa đánh một roi, vừa giảng giải. Thúy gan dạ nhất, mẹ đánh không bao giờ Thúy khóc. Có một hôm, sau khi mẹ đánh, Thúy khóc nức nở. Mẹ hỏi: “Tại răng lần rồi mẹ đánh con lại khóc?” Thúy nức nở trả lời: “Vì mẹ đánh không thấy đau, con biết mẹ đã yếu, con thương mẹ mà khóc”. Cũng vì gan cóc tía mà một lần tôi và Thúy bị anh đánh. Trong đám cưới chị Thành, hai đứa trêu nhau tắt đèn đi. Thúy bị tôi mách lẻo với anh. Nó không sợ anh đánh vì nó có gan cóc tía. Anh quất cho nó hai roi bật máu. Tội nghiệp em tôi.

Cha tôi sống thời tôi còn bé dại nên kỷ niệm về người cũng ít, chỉ biết tính người ôn hòa, không bao giờ xúc phạm đến người khác, sống giản dị. Bữa ăn dầu có nhiều thức ăn ngon hay không cha cũng chỉ ăn ba lưng bát, không rượu chè cờ bạc, trai gái như các vị đương thời với cha tôi. Được bộ quần áo lụa tơ tằm trắng, cha thỉnh thoảng lấy ra giặt sạch rồi cất vào tủ. Cha tôi rất tôn trọng mẹ tôi, chẳng bao giờ chúng tôi thấy cha mẹ tôi nói to tiếng với nhau. Cha tôi mất, đúng 20 năm sau (1970) mẹ tôi mới mất. Mẹ tôi sống được 79 mùa xuân đã chứng kiến bao vinh nhục của cuộc đời. 

Ông nội tôi, cụ Cai Vạn, là người rất giàu có về tiền bạc và danh vọng và thông gia với những nhà khoa bảng và quan lại. Ông mất sớm, bà nội tôi là vợ hai nên không được gì gia sản và lại điên điên nên mẹ tôi vất vả gánh vác việc nhà chồng, nuôi một đoàn em chồng, toàn các chú: chú Đa, chú Trị, chú Thâu (tức chú Vinh), dựng vợ làm nhà cho các chú. Đẻ thì nhiều (11 người con) nhưng lại hữu sinh vô dưỡng (chỉ nuôi được sáu người trưởng thành). Tất bật lo sinh kế cho cả một đại gia đình, nhưng mẹ tôi đã chèo chống giỏi, nhờ tài tháo vát, nghị lực và sự giúp đỡ của nhiều người. Nhờ vậy các con không bị đói rách, được học hành, xây dựng được nhà cửa khang trang, tiện nghi trong gia đình đầy đủ so với thời bấy giờ. 

Thời mẹ tôi mới sinh các chị Nhàn, chị Phi, anh Phượng, chị Hiếu nhà tôi nghèo lắm. Mẹ tôi thường nói: “Kéo cây rào từ đầu này nhà đến đầu kia nhà không có cái gì”. Phải chăng vì vậy mà mẹ tôi cho chị Thành tôi làm con nuôi bà Thái ở Hải Phòng và cho chị Lộc tôi làm con nuôi dì Giáp? Thật thương cho các chị và thương cho mẹ tôi. Thời đó đã làm gì có sinh đẻ có kế hoạch như bây giờ, đẻ chỉ là sự tự nhiên, rồi đẻ ra, nuôi lớn như thế nào xã hội đâu có quan tâm như bây giờ. Từ lúc chị Đào tôi sinh ra, gia đình cũng đã nuôi được người giúp việc, cha mẹ tôi đã làm được nhà cao cửa rộng. Căn nhà đó cha mẹ tôi đã dành dụm mười năm công sức, tiền bạc mới làm nổi. Sau này, thời chiến tranh chống Mỹ hư hỏng nhiều không có tiền sửa lại, anh trai tôi lại không có ý định ở lại nơi chôn rau cắt rốn nên đã bán đi. Sau này vài lần về quê, tôi không lúc nào đặt chân lên mảnh đất cũ đã ghi bao kỷ niệm của gia đình tôi, của chị em tôi thời thơ bé. Vì người không còn và cảnh đã thay đổi khác xưa, nhìn lại chỉ thêm đau lòng.

Ngồi viết lại những dòng này, tôi đã 70 tuổi. Sáu anh chị em trưởng thành nay chỉ còn bốn chị em gái cùng ở Hà Nội, chỉ cách nhau mười cây số trở lại.

(Trích từ Hồi ký, viết năm 1997, bản điện tử do cháu nội Trương Thùy An thực hiện)

Làng thì ở đâu cũng là làng

Sáng hôm nay tôi mang xe ô tô đi chữa ở một xưởng cách nhà tôi chỉ mấy nóc nhà. Vào giờ chiều khi đến nhận xe ở xưởng thì ông chủ cho biết xe đã chữa được đỗ ở đâu đấy ngoài đường. Lúc tôi đang loay hoay đi tìm xe thì có một bà cụ, theo phỏng đoán của tôi chừng 70 tuổi hoặc trẻ hơn, dừng lại và rất thân thiện hỏi liệu bà có thể giúp đỡ được gì. Sau một hai phút trò chuyện sôi nổi và hai bên đã tường tận về việc xe tôi vừa được chữa, nhà của tôi ở phía cuối làng v.v. thì tôi chợt nhận ra xe của mình đã được nhân viên của xưởng mang đến đỗ ngay trước cổng nhà. Bà cụ khen cách làm việc của xưởng này, bà cho biết bà cũng là khách hàng lâu năm ở đó và biết ông chủ xưởng từ lúc người đó còn là một chàng trai trẻ.

Từ chuyện nọ lan man sang chuyện kia, hoá ra bà cụ cũng biết rất rõ về gia cảnh của ông chủ cũ ngôi nhà của tôi, đặc biệt là câu chuyện tình ái khá ngang trái của ông (tiếc là không thể kể lại kỹ hơn ở đây, chỉ có thể bật mí là cái kết cục của nó cũng chính là nguyên nhân để ông bán nhà gần tám năm về trước). Bà cũng cho biết bà mẹ vợ cũ của ông chủ cũ (cụ ấy năm nay chắc đã gần 100 tuổi) hiện vẫn còn sống, chỉ có con chó của bà ấy là đã chết…

Về làng đã hơn bảy năm nhưng thực tình tôi chỉ quen rất ít người trong làng, ngoại trừ hai gia đình láng giềng trực tiếp, nên những câu chuyện như vậy tất nhiên là vô cùng hấp dẫn. Bà cụ cho biết bà cũng là hàng xóm trong làng, cách nhà tôi khoảng 5-6 nóc nhà gì đó, trên sân có đỗ một con xe Trabant – một hobby của chồng bà. Bà cũng đã nhiều lần thấy phu nhân của họ Trương làm việc như con ong chăm chỉ ở ngoài vườn, và chắc bà cũng đã đọc tên của gia chủ trên biển tên trước cổng nhà, vì sau đó bà xin phép hỏi ông “Doktor” bảo vệ luận án trên lĩnh vực nào. Khi biết tôi học Ngữ văn ở Đại học Leipzig và bà hỏi tên ông thầy của tôi và tôi nói chắc chắn bà không thể biết đến GS. Claus Träger thì bà mỉm cười và cho biết, tất nhiên là bà biết GS. Träger!

Lúc trao đổi những câu chuyện này thì chúng tôi đã đi đến bên cạnh xe ô tô và trước cổng nhà của tôi, lẽ ra cuộc gặp tình cờ đã đến lúc phải dừng lại. Nhưng tất nhiên là tôi vẫn hỏi tiếp và được bà cho biết bà cũng là cựu sinh viên tại Đại học Leipzig, lúc đó còn là Karl-Marx-Universität (KMU). Và lúc bà kể về thời gian khoá học của bà thì tôi phải hỏi lại đến hai lần vì không thể tin vào tai của mình: bà bắt đầu nhập học ở KMU năm 1962, lúc vừa tròn 18 tuổi! Có nghĩa là bà cụ năm nay đã 77-78 tuổi (khi quan sát bà lúc đầu tôi nghĩ bà chỉ mới cuối 60, đầu 70).

Ngoài GS. Träger bà còn nhắc đến GS. Walter Markov, nhà sử học hàng đầu của CHDC Đức, cũng vốn là GS. ở KMU và là thầy dạy trực tiếp của bà. Bà không học cùng ngành ngữ văn như tôi (hay vật lý như một một cựu sinh viên nổi tiếng của KMU – chi tiết này là tôi thêm bây giờ!), mà học ngành Afrikawissenschaften (Châu Phi học), và bà từng là một nhà ngoại giao của CHDC Đức, chủ yếu làm việc ở các nước Phi châu.

Có một chi tiết thú vị nữa là khi tôi nhắc đến việc tôi từng có dịp gặp H. Markov, con trai của GS. W. Markov, lúc ông còn là Bộ trưởng Tài chính kiêm Phó Thủ hiến Bang Brandenburg, thì bà cho hay bà cũng biết H.M., cả về nguyên nhân thực sự liên quan đến việc rút lui khỏi chính trường của ông ấy về sau này.

Lúc chia tay, bà còn cho tôi biết thêm ở ngõ phố bên cạnh có một vị GS. văn chương rất nổi tiếng, tất nhiên ông cũng đã nghỉ hưu nhưng vẫn rất minh mẫn, rồi bà hứa vào một ngày không xa sẽ tổ chức một cuộc hội ngộ của giới văn nhân ở làng!

Và câu chuyện kể của tôi (nhớ đến đâu viết vội đến đấy để không quên) đến đây là hết 🙂

“Sei nicht so deutsch!” hay là “Đừng có mà đặc Đức như vậy”

Hôm qua, sau khi kể một câu chuyện bếp núc nghề dịch, tôi đã nhận được nhiều phản hồi rất thú vị. Và bất ngờ nhất trong đó không phải là những nhận xét về các khía cạnh ngôn ngữ, dịch thuật, mà là về tính cách người Đức, hay nói đúng hơn, tính cách của người Việt học ở Đức về, hoặc nói chung là bị ảnh hưởng bởi người Đức.

Nhà xã hội học, GS. TS. Bùi Thế Cường cho biết vì lý do này mà thường được cả bề trên lẫn đồng nghiệp, cấp dưới và học trò coi là „khó tính“. Còn người anh đồng môn ngữ văn Đức của tôi ở Đại học Leipzig, dịch giả và nguyên Tổng biên tập Nguyễn Quang Thọ, viết rằng có hẳn cả một luồng dư luận cho rằng „Bọn học ở Đức về là loại người rất khó chịu“. Không những thế, chính bản thân anh có một lần đã bị du khách Đức bảo: „Mày còn Đức hơn cả người Đức!“. Và – last but not least – TS. Vật lý Nguyễn Trường Luyện, đương nhiên cũng là một cựu Nghiên cứu sinh ở Almar mater lipsiensis, đã chia sẻ là „tinh thần phục vụ của người Đức không chê vào đâu được“, nhưng mà nếu áp dụng nguyên xi ở nhà thì „có ngày ra ngủ ngoài đường!!!“ (xin mở ngoặc: ba dấu than là trích nguyên văn lời tác giả, và cái hệ quả được nêu ra ở đây dường như không chỉ là một biện pháp tu từ thuần túy…).

Bản thân tôi trong phần bình luận cũng chia sẻ từng bị một người bạn Đức mắng: „Sei nicht so deutsch!“ (tạm dịch ra tiếng Việt: „Mày đừng có mà đặc Đức như vậy!“). Chuyện này không hề bịa, mà hoàn toàn có thực, xảy ra cách đây đã hơn mười năm trước.

Lần đó tôi đi dự một hội thảo ở Hamburg và lúc quay về Berlin (hôm đó tôi đi ô tô riêng) có chở một người bạn Đức đi cùng. Và người bạn này, phải nói chính xác là một người bạn vong niên, một nhà nghiên cứu chính trị học nổi tiếng, vào thời điểm đó là chuyên gia ở một think tank tư vấn chính trị hàng đầu của chính phủ CHLB Đức. Lúc tôi cùng người bạn đi ra xe thì trời đã sẩm tối. Xe tôi đỗ ở một ngách sâu trong một bãi đỗ xe, để quay trở ra phố phải lùi và chạy vòng vèo qua các dãy xe đang đỗ khác, khá nhiêu khê. Và trước mũi xe của tôi lại là đường phố chính, được ngăn cách bởi một vỉa hè dành cho người đi bộ. Và, đúng vào lúc mà tôi đang loay hoay tìm cách lùi xe để ra lại đường theo đúng quy định, thì người bạn Đức vong niên ngồi ở ghế lái phụ đã nói với tôi đúng câu đã trích dẫn ở trên: “Sei nicht so deutsch, fahr doch einfach durch!“ („Này, đừng có mà Đức như vậy, anh cứ chạy thẳng đi!”).

Hehe, “chạy thẳng” ở đây có nghĩa là cho xe vọt qua vỉa hè để ra thẳng đường chính! Mà lúc này vỉa hè tuyệt nhiên không có bóng người nào. Vậy là tôi nhấn ga cho xe “chạy thẳng” luôn. Không có chuyện gì tồi tệ xảy ra sau đó. Nhưng hình như khi xe tôi đã vọt ra lòng đường chính thì phía đằng sau có tiếng còi bấm, chắc có ai đó đã phát hiện trường hợp vượt rào của chiếc xe có biển số Berlin. Người bạn Đức vong niên ngồi cạnh tôi lúc đó không nói gì, chỉ tủm tỉm cười.

Còn tôi thì từ dạo đấy lái xe ô tô dường như “gấu” hẳn, ít nhất là trong so sánh với chính bản thân trước đó, và theo nhận xét của nhà tôi (my house), mặc dù nàng chưa bao giờ biết đến câu chuyện này.

Và, với ánh mắt buồn, sẽ chờ ta đáp trả…

86348170_3171453732898690_1148257036979404800_o

 

Hôm qua nhận được thư của một nhà thơ Đức trẻ mà tôi rất yêu quý, trong thư anh có trích một câu của nhà phân tâm học Jacques Lacan, đại ý mỗi một lá thư rốt cuộc đều sẽ quay trở về với người gửi.

Cuối bài thơ “Ngày thu” thi sỹ Đức Rainer Maria Rilke đã vẽ nên cái viễn cảnh sau đây:

“Giờ ai không nhà, sẽ chẳng xây nhà nữa.
Giờ ai một mình, sẽ còn một mình lâu,
sẽ mải miết thức, đọc, viết những phong thư dài
rồi bồn chồn dạo bước
trên những đại lộ dài, khi lá cuốn trôi.”

Tôi đồ rằng những kẻ “mải miết thức, đọc, viết những phong thư dài” ấy đều viết với cái tâm thức sẽ không được hồi đáp.

Và nếu có ngày một “phong thư dài” ấy quay trở lại, thì – theo một ý của Theodor W. Adorno, – nó “sẽ gọi ta, và với ánh mắt buồn, sẽ chờ ta đáp trả.“

Lại một câu chuyện dọc đường  (hay ghi chú nhân kỷ niệm 30 năm ngày Bức tường Berlin sụp đổ)

75534286_2928957277148338_6349366010419609600_o

Bức ảnh ở trên tôi chụp lúc dừng chân ở một cây xăng trên đường Rathenower Strasse, ngay cạnh Toà án Bang Berlin, nằm ở vùng Moabit thuộc phía Tây của thành phố. Lúc này tôi vừa từ một chỗ làm việc khác đến, còn khoảng nửa tiếng nữa mới tới giờ hẹn với một nữ luật sư khả ái để cùng vào thăm thân chủ của bà. 

Thật ra sẽ chẳng có gì đáng kể lại, nếu không phải 2-3 phút sau khi tôi mang đĩa thức ăn và cốc chè bạc hà từ quầy tự phục vụ đến bàn ăn (đây là chiếc bàn duy nhất dành cho khách, chỉ có thể đứng, tuy đơn giản nhưng sạch sẽ) có một cụ ông người Đức, tầm khoảng trên 70 tuổi, xin phép đứng cạnh tôi để dùng bữa. Và câu chuyện mà tôi thuật lại sau đây cũng không phải là một biến cố đặc biệt, mà là một cuộc gặp gỡ đời thường, nhưng khiến cho người trong cuộc nhận ra thế giới ta đang sống thực ra rất nhỏ và cũng rất … đáng sống!

Ông cụ người Đức đặt một đĩa bánh Croissant và cốc Cappuccino, nhìn khẩu phần của tôi ông vui vẻ hỏi, liệu đây có phải là bữa trưa của anh. Tôi trả lời, hoàn toàn đúng sự thật, không, đây là bữa sáng thứ hai của tôi. Thấy ông cụ cởi mở và thân thiện, tôi lại nói thêm, tôi thích điểm tâm ở một cây xăng như thế này, không gian ở đây có một thứ charme riêng, không kém gì so với một quán cà phê thực thụ.  À, xin còn nêu thêm một chi tiết là người phụ nữ bán hàng khá niềm nở, giống như đang phục vụ trong một quán cà phê hơn là làm công việc thu ngân ở cây xăng, lúc tôi định trả tiền ngay ở quầy thì bà nói đâu cần vội, ông có thể thanh toán sau đó, mỉm cười và chúc thực khách ngon miệng. Ông cụ đáp lời tôi, thực ra nhiều quán cà phê bây giờ cũng là quán tự phục vụ. Rồi cụ lại hỏi (hơi tò mò một chút), có phải tôi đang dùng món Wiener Würstchen (xúc xích nhỏ kiểu Vienna). Tôi nói không, đây là món Bockwurst (dồi luộc kiểu Đức). Cụ nói đùa rằng tôi là một chuyên gia xúc xích, và đúng lúc này có một người khách khác tiến đến nhờ cụ đỗ dịch xe sang một chỗ khác. Tôi bảo cụ cứ yên tâm, tôi sẽ giữ chỗ (và trông hộ đồ ăn!) cho cụ. 

Nhìn theo cụ tôi nhận thấy hoá ra cụ đi một chiếc BMW đời mới phân khối lớn, trông cực ngầu, ít nhất là so với tuổi của cụ. Lúc trở lại bàn cụ nói với tôi, dường như để phân bua, cứ mỗi lần đi rửa xe và lấy xăng tôi lại tự thưởng mình một bữa cà phê nhẹ như thế này. Còn tôi thì trở lại câu chuyện xúc xích đang dang dở trước đó và chia sẻ, món dồi luộc Bockwurst chính là món ăn Đức mà tôi nhớ nhất trước đây, hơn tất cả mọi thứ sơn hào hải vị khác, vào thời trở về nước sau khi tốt nghiệp ở Đức. Cụ hỏi liệu tôi có phải là người Trung Quốc (câu hỏi này bình thường ra thì nhạy cảm lắm đây!), tôi trả lời (hết sức bình tĩnh), không, tôi là người Việt Nam. 

Từ thời điểm này dường như câu chuyện của chúng tôi đã chuyển sang một hướng khác, không chỉ về đề tài, mà cả cái không khí trò chuyện cũng thay đổi, không còn là một cuộc nhàn đàm thông thường nữa. Với nét mặt trở nên trầm ngâm, cụ hỏi liệu có phải sinh viên Việt Nam trước đây thường học y khoa (chắc cụ muốn nói ở Tây Berlin cũ), còn hiện tại phần lớn lại theo học các ngành kỹ thuật và kinh tế. Tôi không biết rõ về các ngành học của các anh chị cựu sinh viên Việt Nam ở Tây Berlin và Tây Đức trước đây, vì vậy cũng chỉ có thể phỏng đoán y khoa là một ngành học đặc tuyển, nên chắc chỉ có ít người theo học. Không hiểu sao lúc đó tôi “khoe” có một người bạn là chuyên gia mắt nổi tiếng ở Berlin, vốn là Giám đốc Bệnh viện mắt Vivantes. Cụ hỏi tôi ngay: “Có phải anh đang nói về Prof. Pham?” 

Tôi hoàn toàn bị bất ngờ, vì ở một thành phố gần bốn triệu dân, diện tích rộng gấp mười lần so với Paris xác suất để hai người không hề quen biết nhau trước đó, vô tình đứng cùng ở một bàn ăn ở một trong rất nhiều cây xăng của thành phố lại cùng quen hay biết một người thứ ba rõ ràng là không cao. Tôi trả lời cụ, vâng, tôi đang nói về chuyên gia nhãn khoa, GS. Phạm Duy Thoại. Cụ gật đầu, không hề tỏ ra ngạc nhiên và nói: “Tôi từng là một bệnh nhân của Prof. Pham, ông ấy từng đã phẫu thuật chữa bệnh đục thuỷ tinh thể cho tôi!”  Cụ kể tiếp cụ có một nữ bác sỹ phòng khám nhãn khoa người Trung Quốc, và bác sỹ này đã giới thiệu tiếp cụ đến với Prof. Pham, vì đây là chuyên gia mắt hàng đầu. Cụ lại còn biết một bác sỹ nhãn khoa ở một phòng khám khác, vị đó cũng là giáo sư, và cũng tỏ ra hết sức kính trọng Prof. Pham. 

Sau đó cụ hỏi liệu tôi cũng làm trong ngành Y, tôi trả lời tôi vốn học ngành Germanistik (Ngữ văn Đức), và là ở Leipzig, CHDC Đức trước đây. Đến lượt cụ dường như cũng khá ngạc nhiên – vừa cả về ngành học, vừa cả về xuất xứ miền Đông của tôi! Cụ lại kể tiếp mỗi lần gặp gỡ Prof. Pham đều trao đổi rất cởi mở, không chỉ về việc điều trị, thường là cụ trò chuyện với Prof. Pham về các chủ đề chính trị – xã hội ở Đức, chỉ có điều là cụ chưa bao giờ có dịp hỏi GS về các đề tài chính trị Việt Nam. Rồi đột nhiên cụ chuyển chủ đề. Cụ nói với tôi, anh có thấy không, trong những ngày này đâu đâu người ta đều cũng nói về kỷ niệm 30 năm bức tường Berlin sụp đổ, về sự thống nhất nước Đức, về những khác biệt vẫn còn giữa Đông và Tây Đức v.v.  Lúc này thời gian của tôi đã gần hết, và tôi còn phải thanh toán tiền cho người thiếu phụ dễ mến ở quầy. Trước khi từ biệt tôi còn nói với cụ: “Ông thấy không, GS. Phạm đến từ miền Nam trước đây, tôi đến từ miền Bắc, GS. Phạm học ở Tây Đức cũ, tôi học ở CHDC Đức, và bây giờ tôi rất tự hào là bạn của GS. Phạm, hôm nay lại có cơ duyên được gặp ông ở đây! Nhất định tôi sẽ kể với GS. Phạm về lần gặp gỡ này!”

Sau đó thì tôi phải đi vội sang Toà án vì đã sát giờ hẹn với nữ luật sư. Lúc đến phòng chờ của luật sư thì bà gọi điện cho tôi, báo đáng tiếc sẽ đến chậm mất mười lăm phút. Sau đó tôi chờ không phải mười lăm, mà gần ba mươi phút, nhưng đâu có hề hấn gì, vì giờ chờ của thông ngôn cũng được tính tiền y chang giờ làm việc. Mọi chuyện sau đó diễn ra rất nhẹ nhàng, kể từ khâu kiểm tra an ninh ở tầng hầm nơi dẫn vào trại giam điều tra (người cảnh sát tư pháp không hề nhìn vào giấy tờ của tôi, không loại trừ là ông nhầm tôi với một đồng nghiệp – đồng hương dễ thương khác!), cho đến cuộc nói chuyện giữa luật sư và thân chủ. Lúc xong việc trở ra và đi qua lối đi dưới tầng hầm dẫn từ nhà tù sang toà án tôi kể cho luật sư biết, nơi đây khoảng gần 30 năm trước, lúc cũng trên đường từ một buổi gặp của luật sư với thân chủ quay trở lại toà án, tôi đã gặp một người đàn ông cao lớn đi ngược chiều, và người đó không phải ai khác mà chính là Egon Krenz, nguyên TBT Đảng XHCN Thống nhất Đức và Chủ tịch Hội đồng Nhà nước cuối cùng của CHDC Đức, khi đó là bị cáo trong một phiên toà nổi tiếng ở Toà án Bang Berlin. Tôi cũng kể với luật sư là tôi từng có dịp gặp Krenz trước đó, lúc ông còn ở một vị trí đầy danh vọng, vào thời CHDC Đức…

Lúc đi hết lối dẫn và quay trở lại điểm kiểm tra an ninh (tất cả đều nằm dưới lòng đất), tôi chợt nhận thấy hoá ra ở đó cũng có ánh sáng mặt trời, lọt xuống qua mấy cửa sổ ở phía xa và nêu ngay nhận xét này với người cảnh sát tư pháp đang trao lại giấy tờ và điện thoại di động cho tôi. Bác cảnh sát tư pháp ấy, và cả nữ luật sư, tỏ ra hơi ngạc nhiên. Ừ nhỉ, tại sao lại không thể không có ánh sáng mặt trời ở chốn này? Lúc tạm biệt, nữ luật sư nói với tôi, ông vẫn còn rất trẻ trung. Tôi trả lời, vậy mà tôi vừa sinh nhật tròn 60 rồi đấy. Nàng nói với tôi (xin được gọi như vậy, vì nữ luật sư trẻ hơn tôi cả một thế hệ), tôi hy vọng đến tuổi đó sẽ giữ được một phần phong độ như ông (hay anh – chuyển ngữ cách xưng hô từ tiếng Đức sang tiếng Việt thật khó!)

Phỏng cũng là một kết thúc có hậu cho một ngày làm việc thú vị và nhiều bất ngờ, trước thềm kỷ niệm 30 năm ngày Bức tường Berlin sụp đổ, có phải vậy không ạ, thưa các bạn đọc yêu quý?  

Berlin-Moabit 07.11.2019

Một chuyện dọc đường

IMG_8134

Sáng nay có việc đến Toà án Berlin-Tiergarten tôi gặp lại nữ luật sư Z., một trong những nhà bào chữa hình sự hàng đầu ở Berlin. Trước đó tôi đã nhìn thấy bà trên đường đi bộ tới Toà, nhưng vẫn còn bán tin bán nghi, vì lần cuối cùng tôi gặp bà cách đây cũng đã gần khoảng hai mươi năm. Chỉ đến lúc đã vào hẳn trong khuôn viên Toà án và cùng đi thang máy tôi mới dám chắc đấy là bà. Bà cũng dường như nhận ra tôi, hay ít nhất là nhầm tôi với một đồng nghiệp và cũng là một đồng hương dễ thương khác – về việc này tôi đã có một tường trình ngắn cách đây không lâu 🙂

Tuy nhiên khả năng bà nhận ra tôi là khá cao. Nữ luật sư Z. là người bảo vệ cho một nữ thân chủ nổi tiếng, trong một phiên toà hình sự khét tiếng kéo dài bốn năm tại Toà đại hình Berlin vào cuối những năm chín mươi của thế kỷ trước. Và tôi là một trong những phiên dịch có mặt từ đầu đến cuối ở căn phòng xét xử lừng danh số 700 của vụ án này. Nội dung của vụ án giữa chừng thậm chí đã được tiểu thuyết hoá bởi một tác giả người Đức, trong đó có phần mô tả khá chi tiết về một trải nghiệm chung, đầy kịch tính và thương tâm, của nữ luật sư Z. và tôi cùng nữ thân chủ dạo đó của bà.

Trên thang máy, bà bấm hộ cho tôi số tầng có phòng xử án mà tôi cần đến, và như để đáp lại ánh mắt hơi ngỡ ngàng của tôi, bà nói nhỏ, bà cũng vừa nghe số tầng của tôi (khi cùng xuất trình giấy tờ ở chỗ người cảnh sát tư pháp). Ngoài bà và tôi trên thang máy còn có ba người phụ nữ, cả ba đều rời thang máy ở lầu một. Lúc chỉ còn lại bà và tôi, bà tủm tỉm cười nhìn theo ba người phụ nữ (lúc này tôi mới nhận ra họ đều là nhân viên của Toà án) và nhận xét: “Ông có thấy không, họ ra ngoài để hút thuốc lá và lúc quay về lại phải đi thang máy, mặc dù chỉ có một tầng”. Lẽ ra lúc đó tôi định có một câu thăm hỏi (và ôn nhanh lại chuyện xưa!), nhưng chỉ ít giây sau đến lượt mình phải rời thang máy – tôi xuống ở lầu hai – nên tôi chỉ kịp phụ hoạ: “Vâng, con người ta thật là kỳ cục!” Và, lúc đã bước nửa người ra ngoài thang máy, không hiểu sao tôi lại còn nói đế thêm: “Và nhân loại nói chung đều thật kỳ cục.”

Tất nhiên đây chỉ là một câu pha chút vị bông lơn, một thứ “Bonmot” như người Đức thường nói (mặc dù giờ đây, khi ghi lại những dòng này, tôi phải tự thừa nhận đã có một trạng thái xúc cảm nào đó, đặc biệt trong mấy ngày vừa qua, có thể là nguyên cớ cho câu nói tưởng chừng chỉ buột miệng này). Tôi không kịp quan sát nét mặt của nữ luật sư Z., chỉ còn nghe tiếng bà chúc một ngày làm việc thành công, và tất nhiên tôi đã phúc đáp lời chúc của bà, trước khi cửa thang máy khép lại.

Phiên toà của tôi kéo dài đúng 15 phút, nói chính xác hơn là vì bị cáo không đến nên sau 15 phút thông ngôn được Toà cho về. Trước khi ra ga để trở về làng, tôi nán lại một chút ở quán cà phê nhỏ đối diện với Toà án để ghi nhanh lại về cuộc gặp hi hữu này. Không gian trong tấm ảnh chụp kèm theo là nơi mà vào thời 15-20 năm trước tôi và các đồng nghiệp phiên dịch khác hầu như tuần lễ nào cũng có mặt, thậm chí nhiều lần trong tuần. Cuộc sống của chúng tôi dạo đó hoàn toàn bị chi phối bởi nhịp điệu công việc này, kèm theo đó đương nhiên cũng là những lần nghỉ giải lao, trao đổi, những cuộc gặp gỡ và tâm tình cá nhân.

Giờ đây nó chỉ là một chốn hoàn toàn xa lạ, tịnh không có một bóng người quen, và chẳng còn gợi lên một hồi ức nào, đủ để cảm một niềm xao xuyến.

Chuyện dọc đường

Có bao chuyện vụn vặt trải qua dọc đường, nếu không ghi lại ngay sẽ rơi tõm vào quên lãng. Như mẩu chuyện tôi chứng kiến sáng nay trên chuyến tàu nhanh nội đô S5 chạy từ phía Đông sang phía Tây thành phố. Một gã trai trẻ say xỉn bước lên toa và lảo đảo đi đi lại lại ngay phía trước mặt chúng tôi. Lúc đó tôi vừa tìm được chỗ ngồi, trên một chiếc ghế băng dài chạy dọc toa, giữa một cô gái người Âu và một người đàn ông châu Á trẻ. Gã trai mấy lần chực ngã, lần đầu chúi vào người đàn ông châu Á trẻ phía bên trái tôi, lần thứ hai vào chính tôi, và mỗi lần như vậy cả người hành khách châu Á (mà tôi đoán là một đồng hương cũng đang trên đường đi làm) lẫn tôi đều phải dùng cánh tay để đỡ lại. Không chỉ say xỉn, mà cả vẻ mặt, hành trang nhếch nhác, bẩn thỉu của gã còn cho thấy rõ đây là một người vô gia cư. Ai đi lại nhiều trên các tuyến tàu công cộng ở Berlin đều thường xuyên bắt gặp những số phận tương tự. Có một lần tôi lên tàu vào giờ cao điểm và phát hiện thấy một khoang còn trống, mừng quá định vào lấy chỗ thì bỗng khựng lại bởi một thứ mùi khắm lặm khủng khiếp bốc thẳng vào mũi, chỉ kịp mục kích thoáng qua một thân thể rách rưới nằm sõng soãi trên cả chiếc ghế băng là đã phải quay đầu rút lui, để sau đó đi hết từ cuối toa tới đầu toa vẫn chưa dứt được mùi hôi thối.

Gã trẻ sáng nay chưa đến nông nỗi này, nhưng cơ thể rõ ràng cũng đã bốc mùi không hề dễ chịu. Sau khi chúi mình vào người đàn ông châu Á trẻ và tôi và đều bị gạt ra, giờ đây gã dường như có ý ngã xuống hướng cô gái ngồi phía bên phải tôi. Tôi còn kịp thấy đôi mắt xanh của cô mở to (tôi không dám chắc, nhưng mường tượng trong khi viết những dòng này đó phải là một đôi mắt xanh…), không hẳn là sợ hãi, nhưng đầy vẻ cảnh giác và căng thẳng. Bất ngờ gã trai đổ gục xuống, nhưng không phải là vào cô gái, mà vào người đàn ông châu Á trẻ. Chưa kịp định thần thì tôi thấy thấy gã trai đã bị tung bổng lên rồi rơi phịch, đầu đập bốp vào nền toa tàu. Hình như gã nằm bất động mất mấy giây. Tôi không kịp nhận biết người đàn ông trẻ châu Á đã làm gì, nhưng tất nhiên cú ngã trời giáng của gã xỉn vô gia cư là kết quả của một đòn đánh ngoạn mục từ vị hành khách ngồi ngay bên trái tôi này.

Như đã nói, dường như gã trai bị choáng đi mất mấy tích tắc, nhưng ngay đó gã đã lại lảo đảo tìm cách đứng dậy. Một hành khách ngồi ở hàng ghế đối diện, một người Đức ở độ tuổi trung niên có dáng vẻ công chức, lên tiếng hàm ý trấn tĩnh và khuyên gã trai hãy ngồi lại xuống sàn tàu. Lúc đó, mặc dù phải hơn một ga nữa mới tới bến cần xuống, tôi đã đứng dậy và đi ra hướng cửa. Khi đi ngang qua, tôi mới kịp quan sát vẻ mặt của người đàn ông châu Á trẻ. Anh ta vẫn ngồi yên, mắt điềm tĩnh tập trung vào màn hình chiếc Smartphone cầm trên tay. Trước đó, khi ngồi xuống bên cạnh anh, như đã nói, tôi có cảm giác đây là một người đồng hương. Nhưng lúc này, khi có dịp nhìn kỹ hơn, thì dường như không phải vậy, đó là một gương mặt hoàn toàn xa lạ, có thể là một người Hàn, người Trung Quốc hay từ một quốc gia nào khác vùng Viễn Đông.

Cô gái người Âu giờ đây cũng đã hết vẻ căng thẳng và lại cúi xuống màn hình điện thoại của mình. Không một ai, kể cả vị hành khách đã tỏ lòng trắc ẩn với gã trai bị đốn ngã trước đó, lên tiếng về cú ra tay, hay cũng có thể là cú ra chân của người đàn ông châu Á trẻ. Và gã trai say xỉn vô gia cư, bất chấp lời khuyên răn (mà chắc hẳn gã chẳng hề nghe, mà có nghe được thì cũng chẳng hiểu), lại đã nhổm dậy và tiếp tục chân nam đá chân xiêu đi lại trong toa. Và bây giờ tôi mới nghe giọng nói của y, một người Đức chính cống, mặc dù y đã say đến líu lưỡi. Y đi đến sát đến cửa toa, lúc bây giờ chửi rủa không ngớt và rất to tiếng, chân đạp tứ tung vào cánh cửa sắt, cho đến khi có một hành khách Đức đứng tuổi khác ở cạnh nghiêm khắc lên giọng cảnh cáo. Sau đó thì tàu dừng, và tôi nhận ra đó cũng là sân ga mà mình cần phải xuống.

Hồi tưởng về cháu Nguyễn Q. A.

Hôm nay là ngày tang lễ của cháu. Tôi biết tin dữ về cháu chiều hôm kia, lúc đang dự hội thảo tại một giảng đường đại học cổ kính ở Praha. Tôi chưa bao giờ gặp cháu. Cháu là con trai của H., con gái của dì ruột tôi. Cả H. cũng từ rất nhiều năm rồi tôi chưa có dịp gặp lại. Tháng bảy vừa qua, H. dẫn con trai sang thăm con gái đầu lòng sống ở Pháp, nhân tiện đưa cậu bé đi du lịch một số thành phố châu Âu, trong đó có Budapest và Berlin. Sở dĩ H. mang con trai sang Berlin là vì có gia đình tôi ở đây, ngoài ra có thêm một lý do nữa mà về sau này tôi mới được biết là cháu có nguyện vọng du học ở Đức, H. muốn kết hợp chuyến đi này để tìm hiểu tại chỗ các điều kiện học tập, sinh hoạt của con trai trong tương lai. Do một kế hoạch công việc bất ngờ, đúng vào thời điểm hai mẹ con H. sang Berlin thì tôi lại về Hà Nội. Tại Berlin nhà tôi và con trai tôi ra sân bay đón hai mẹ con H. Để nhà tôi dễ dàng nhận ra hai mẹ con ở sân bay, tôi có viết thư nhờ H. gửi một tấm ảnh mới chụp của hai mẹ con. Và nhờ thế lần đầu tiên tôi mới được thấy ảnh cháu.

Ảnh này hai mẹ con chụp ở Budapest trước lúc bay sang Berlin, trong một ngày đẹp trời. H. và con trai đứng trên một quảng trường ngập nắng, phía sau lưng là một toà lâu đài đồ sộ, cổ kính, ở giữa có một tháp cao. Nổi bật trên vòm cổng toà nhà, ngay dưới chân tháp, có một tấm áp phích lớn với dòng chữ viết hoa: “REFUGEES WELCOME”. Trong ảnh H. thật tươi trẻ và rạng rỡ bên cạnh cậu con trai cao hơn mẹ một cái đầu. H. mặc váy hoa, đeo kính râm, đầu đội mũ phớt màu trắng, hơi có chút nhí nhảnh và trẻ hơn nhiều so với hình dung của tôi. Anh con trai đi giày thể thao, mặc quần soóc ka ki, áo thun có các đường sọc ngang đậm màu nâu, vai đeo ba lô. Bàn tay phải của bà mẹ đặt trên cổ tay trái của con, vẻ mặt cậu bé hơi tư lự, cậu đứng thẳng và không nghiêng người về phía mẹ (con trai và đã mười tám tuổi rồi mà), tuy nhiên vẫn toát đầy vẻ bình an và tin cậy. Tôi đoán H. đã không vô cớ khi chọn tấm hình này gửi cho tôi, đơn giản đó là sự ghi dấu một khoảng khắc thật đẹp và hạnh phúc của hai mẹ con, trong một không gian mới lạ, hàm chứa cả rất nhiều hy vọng về tương lai.

Ở Hà Nội tôi thường xuyên liên lạc sang Berlin, từ lúc hai mẹ con H. xuống sân bay. Đặc biệt vào buổi tối thứ hai và cũng là buổi tối cuối cùng của hai mẹ con ở nhà tôi, chúng tôi còn lập cả cầu truyền hình qua điện thoại di động, truyền trực tiếp cảnh ca hát rất vui từ một cuộc liên hoan gia đình ở Hà Nội. Tuy nhiên cả trong lần truyền hình đó, chỉ có H. và nhà tôi có mặt ở phòng khách, con trai H. ở một mình trên phòng của cháu. Về sau này nhà tôi nhận xét cháu có tính cách dễ thương song cũng khá rụt rè. Trong ngày thứ hai, nhà tôi đưa hai mẹ con đi tham quan thành phố, đến những điểm quan trọng nhất mà người ta có thể tới được bằng phương tiện giao thông công cộng. Bữa trưa, nhà tôi dẫn hai mẹ con H. đến Trung tâm Sony với mái lợp bằng những dải vải bạt rất độc đáo tượng trưng ngọn núi Fujiyama đang phủ tuyết và chiêu đãi khách từ quê nhà món đùi lợn hầm đặc trưng của Đức mà tôi và bạn bè rất ưa chuộng ở đó. Chiều tối ngày thứ ba mẹ con H. bay trở lại Paris, cả ngày hôm đó H. và con trai chỉ ở nhà, H. thăm vườn, trò chuyện cùng nhà tôi rồi đọc sách, anh con trai thì xem phim trên phòng của cháu. Một ngày sau khi hai mẹ con H. rời Đức thì tôi cũng từ Hà Nội bay trở lại Berlin. Sau đó H. và tôi liên lạc với nhau qua thư điện tử, có một lần tôi cũng nói chuyện qua điện thoại với H., sau khi hai mẹ con đã trở lại Hà Nội. Tôi gửi cho H. các thông tin về du học Đức. Ở Hà Nội, em trai tôi cũng cho biết đã hẹn với H. sẽ dẫn hai mẹ con đến văn phòng du học của một người bạn thân của tôi ở Hà Nội để dần chuẩn bị các thủ tục cho cháu.

Tôi ghi lại những dòng này trên chuyến xe buýt từ Praha đi về vùng miền Nam nước Séc, mở đầu cho một chương trình tham quan hậu hội thảo. Trên xe là các nhà học giả và trí thức Việt Nam nổi tiếng từ trong và ngoài nước mà tôi vô cùng kính trọng và yêu quý. Và nhà tôi cũng đi cùng tôi, bên cạnh nàng tôi cảm thấy thật bình an. Con trai của chúng tôi không đi cùng, cháu ở nhà và đang viết bài tốt nghiệp về một đề tài ngữ nghĩa học. Hàng ngày chúng tôi gọi điện, chát qua video với cháu, đặc biệt từ sau khi biết tin dữ về con trai của H. chúng tôi càng phải dặn dò cháu nhiều điều hơn. Thế giới mà chúng ta đang sống thật bất an, dù ở bất cứ nơi đâu. Trong ngày hôm nay, nỗi đau lớn nhất ở trên toàn thế giới là nỗi đau mà H., em tôi, phải trải qua. Hồi tưởng về cháu qua tấm ảnh duy nhất mà tôi có được về mẹ con em, tôi thầm cầu mong em và gia đình em sẽ giữ mãi muôn vàn những hình ảnh như vậy trong tim để tiếp tục có nghị lực sống. Những người thân yêu nhất của chúng ta không bao giờ mất hẳn, ta hãy tin và được phép tin như vậy.

Nam sinh ĐH Bách Khoa tử vong bất thường: Hiền lành, học giỏi