TS. Phạm Ngọc Kỳ – Bốn mươi năm hội nhập và phát triển của cộng đồng người Việt Nam trên nước Đức

(c) Foto: Quang Chí

Phát biểu tại lễ hội „Bốn mươi năm người Việt hội nhập và phát triển ở Đức“, Berlin ngày  27.6.2015 

Thưa tất cả những người đồng hương Việt Nam thân mến của tôi,
Thưa toàn thể các vị khách quý của buổi lễ hôm nay,

Tôi có vinh dự được đứng ở đây trong giờ phút đáng ghi nhớ này để cùng quí vị và những người đồng hương thân mến của tôi ôn lại một chặng đường, chặng đường bốn mươi năm hội nhập và phát triển của cộng đồng người Việt Nam trên nước Đức. Đúng ra người Việt Nam có mặt ở Đức sớm hơn nhiều so với con số 40 năm. Vào những năm năm mươi của thế kỷ trước, 350 học sinh Việt Nam đã được gửi đến Moritzburg để theo học các trường phổ thông. Nếu căn cứ vào mốc thời gian này thì con số được nhắc tới phải là 60 năm. Nhưng thưa quý vị kính mến, những người Việt đến nước Đức thời kỳ này chủ yếu để học tập, thăm quan hay công tác trong một thời gian, rồi trở về nước; hội nhập lúc đó là một nhu cầu xa lạ, chưa được đặt ra. Sau năm 1975, khi quan hệ ngoại giao giữa hai nhà nước CHXHCN Việt Nam và CHLB Đức chính thức được thiết lập đồng thời với việc thay đổi hệ thống chính trị (thống nhất) ở Việt Nam, một số người tị nạn từ Việt Nam sang CHLB Đức (chủ yếu bằng đường biển, gọi là thuyền nhân). Một số sinh viên từ chế độ Việt Nam Cộng hòa sang Đức du học cũng có nhu cầu ở lại. Đặc biệt sau này, vào những năm cuối của thập kỷ tám mươi, một số lượng lớn người lao động Việt Nam tại CHDC Đức, phải chấm dứt hợp đồng lao động sau sự kiện Thống nhất nước Đức, cũng có cơ hội và nhu cầu ở lại nước Đức. Yêu cầu hội nhập bắt đầu từ đây.

Cộng đồng người Việt ở CHLB Đức hôm nay, do đặc điểm lịch sử của nước Đức, cũng được hình thành từ hai khu vực: miền Tây và miền Đông nước Đức. Người Việt ở phía Tây chủ yếu là những người đi du học trước 1975 từ chế độ Việt Nam Cộng hòa và thuyền nhân trong thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ trước, số lượng này theo ước đoán khoảng trên dưới 40.000. Ở phía Đông hiện nay cư trú khoảng 85.000 người Việt Nam, có gốc chủ yếu là những người đi hợp tác lao động thời CHDC Đức và một bộ phận nhỏ những người đi du học trong thời gian này.

Nhìn chung những người Việt đang sống tại các Bang miền Tây đã có cuộc sống tương đối ổn định. Phần lớn trong số họ làm việc cho các hãng sản xuất hay tại các công sở của Đức. Con đường đến nước Đức trước đây của số người này có thể khó khăn hơn nhưng điều kiện hội nhập ban đầu của họ có nhiều thuận lợi so với những đồng hương đến sau. Lý do có lẽ là chính sách của nhà nước Đức hồi đó có nhiều ưu đãi với Thuyền nhân (Bootsflüchtlinge) hơn đối với người nhập cư nói chung về sau này? Vì điều kiện thời gian, trong phạm vi bài nói chuyện hôm nay tôi không đề cập nhiều đến quá trình hội nhập của số người Việt này. Xin được tập trung vào cộng đồng người Việt ở phía Đông với những thăng trầm Hội Nhập và Phát Triển trong 40 năm qua.

Thế hệ thứ nhất

Tính đến năm 1989 có khoảng hơn 100.000 người Việt đã học tập, nghiên cứu, sống hoặc làm việc thường xuyên hay có thời hạn tại CHDC Đức, đặc biệt tập trung tại các vùng như Đông Berlin, Rostock, Erfurt, Jena, Karl-Marx-Stadt (Chemnitz), Leipzig và Dresden. Đa phần trong số họ là những người đi hợp tác tác lao động. Đến năm 1989 con số người Việt sống thường xuyên tại CHDC Đức tăng lên đến xấp xỉ 60.000. 

Sau khi nước Đức thống nhất tình trạng thất nghiệp tại các bang miền đông tăng lên rất nhanh, trong đó có nhiều người lao động Việt Nam. Chính phủ liên bang đưa ra đề nghị đối với số người Việt sống tại các bang miền Đông hồi đó, họ sẽ nhận được toàn bộ chi phí để hồi hương, ngoài ra người lao động còn được hưởng thêm một khoản tiền bồi thường là 3.000 DM nếu trở về. Nhưng nhiều người trong số họ đã quyết định ở lại vì nhìn thấy ở đây những cơ hội tốt hơn cho tương lai của con cái họ như hệ thống giáo dục, chăm sóc sức khỏe…

Vào thời điểm sau khi bức tường sụp đổ, sự việc vẫn chưa rõ ràng, liệu những người „hợp tác lao động“ từ thời CHDC Đức nói chung có được phép ở lại nước Đức mới thống nhất hay không. Hợp đồng hợp nhất giữa hai nhà nước CHLB Đức và CHDC Đức đã bỏ sót mất điều khoản quy định chính thức về vấn đề cư trú cho số người này. Nhiều năm sau đó họ đã sống trong tình trạng không rõ ràng về quy định luật pháp, không có sự bảo đảm chắc chắn về quyền cư trú. Sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường lao động cùng với vốn tiếng Đức nghèo nàn của người lao động Việt Nam lúc đó là những rào cản lớn nhất để „hội nhập“. Đây là thời khó khăn nhất của cộng đồng người Việt tại miền Đông nước Đức. 

Xếp theo thứ tự ưu tiên trên thị trường tuyển dụng lao động, người Việt đứng cuối cùng, sau người (Đông) Đức và công dân các nước EU khác. Con đường mưu sinh gần như duy nhất mở ra cho họ lúc đó là tự kiếm sống, „selbstständig“. Những ai muốn ở lại đều phải tự kiếm cho mình một nghề kinh doanh, chủ yếu là bằng một chỗ bán hàng ngoài hè phố với một tờ giấy phép bán hàng rong, hồi đó chưa mấy ai có đủ tiền thuê một cửa tiệm. Tôi nhớ lại, những Straßenstände mọc lên ở khắp nơi, bất luận đó là một xe Imbiss, một quầy bán quần áo, rau quả hay quầy bán hoa tươi…, luôn xuất hiện hình ảnh những người Việt nhỏ bé, chăm chỉ, tận tình với khách hàng ở mọi miền của nước Đức. Không kể nắng hay mưa, bất kể mùa hè nóng nực hay hay cái rét cắt ruột của băng tuyết họ làm việc, làm việc và làm việc! Họ bán hàng và đôi khi là bán cả tuổi trẻ và sức khỏe của mình để mưu sinh.

Có một điều không thể không nhắc tới đó là thời gian sống và làm việc tại CHDC Đức. Những người lao động Việt Nam đã cống hiến những năm tháng tuổi xuân đẹp nhất của họ cho nước Đức và cũng đã nhận lại từ nước Đức bao điều tốt đẹp. Những đức tính tốt trong lao động như sự đúng giờ, tính kỷ luật và ý thức trách nhiệm trong công việc… Sự yêu thương, giúp đỡ của những gia đình người Đức dành cho các bạn Việt Nam mà chúng ta có thể kể ra ở đây vô vàn những thí dụ cảm động… là những vốn quý vô giá góp vào và làm mạnh lên „nội lực“ cho sự hội nhập và phát triển sau này của cộng đồng người Việt Nam.

Người Việt Nam có câu ngạn ngữ „ Có an cư, mới lạc nghiệp“. Trước năm 1993, đại đa số người Việt ở miền Đông  chỉ nhận được Aufenthaltsbewilligung, một dạng của giấy phép cư trú tạm, được gắn với một mục đích cụ thể, do sở ngoại kiều cấp mỗi ba hay sáu tháng 1 lần. Điều này gây tâm lý bấp bênh, lo lắng, không ổn định và dẫn đến những hành động chụp giật trong làm ăn: buôn lậu, trốn thuế, băng đảng trấn lột lẫn nhau…những vụ án Mafia thuốc lá tàn khốc của thời kỳ này thỉnh thoảng vẫn còn được nhắc đến như một nỗi đau trong lịch sử phát triển của cộng đồng. Nhà văn Nguyễn Văn Thọ, một người từng tham gia hợp tác lao động ở CHDC Đức, đã phản ánh một cách trung thực thời kỳ „đen tối“ này của cộng đồng người Việt ở Đức trong cuốn tiểu thuyết mang tên „Quyên“. Nhiều người còn biết đến câu chuyện qua bộ phim cùng tên của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình mới được trình chiếu tại Berlin cách đây vài tuần. Nhắc lại một thời với những biến cố để giữ cho nó không bao giờ được xẩy ra trong tương lai, cả với những thế hệ sau này.

Rốt cuộc năm 1993 chính phủ liên bang đã hợp thức hóa quy chế cho những người hợp tác lao động.

Nói đến hội nhập, đặc biệt là hội nhập từ nguyên nhân nhập cư, luôn bao gồm hai mặt quan trọng: những yêu cầu đối với người nhập cư và những đòi hỏi đặt ra với xã hội tiếp nhận họ. Những đấu tranh trong quốc hội, giữa các đảng phái của các chính khách Đức cho quyền lưu trú của người lao động là đề tài sôi động được quan tâm nhất trong cộng đồng người Việt suốt từ sau Wende mãi đến những năm 2005-2006. Tiêu biểu cho các nhà hoạt động xã hội – chính trị Đức đã có công lao lớn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động Hiệp định trong thời kỳ bước ngoặt ở CHDC Đức và về sau đã nhiệt thành đấu tranh cho quyền lưu trú của họ ở nước Đức thống nhất, ở đây xin được nêu tên bà Almuth Berger, Đặc phái viên Ngoại kiều cuối cùng của CHDC Đức và về sau là Đặc phái viên Ngoại kiều đầu tiên của Bang Brandenburg. Trong tương quan này tôi cũng muốn nhắc lại những hoạt động chính trị đầy ý nghĩa như buổi tham vấn về tình hình người lao động hiệp định Việt Nam do Khối nghị sỹ LIÊN MINH 90 – Đảng Xanh đã tổ chức tại Nghị viện Liên bang Đức vào đầu những năm 90 (lúc đó vẫn còn ở Bonn). Những bước đi cụ thể như vậy dần dần đã tạo ra một sự thay đổi tích cực trong cách nhìn nhận của công luận về hoàn cảnh của người lao động Hiệp định, và rốt cuộc đã giúp  họ dành được quyền lưu trú lâu dài ở CHLB Đức. Tại đây một lần nữa xin bày tỏ lòng cám ơn chân thành của chúng tôi!  

Những sự kiện „mở đường“ của luật pháp nước sở tại đồng thời cũng là những chiếc chìa khóa mở rộng cánh cửa vào thế giới hội nhập và phát triển cho cộng đồng người Việt ở đây.

Thế hệ thứ hai

Thế hệ thứ hai của người Việt tại Đức bao gồm hai lực lượng chủ yếu: con cái người lao động, đến thời điểm thống nhất nước Đức có độ tuổi dưới 14, vẫn còn sống tại Việt Nam được bố mẹ đón sang theo chính sách đoàn tụ gia đình; và các cháu được sinh ra tại nước Đức sau thời điểm nói trên. 
Nhóm thứ nhất lúc mới sang cũng gặp một số khó khăn nhất định trong quá trình hội nhập giống bố mẹ của các cháu trước đây đã từng có như: chưa biết tiếng Đức và chưa quen một số tập quán văn hóa của xã hội Đức. Có lợi thế tuổi trẻ, lại được theo học ngay trong các trường phổ thông với hệ thống giáo dục tiên tiến của Đức, những khó khăn này được khắc phục tương đối nhanh. Trong một thời gian ngắn, có nhiều cháu đã vươn lên, đạt được những thành tích đáng tự hào cho cộng đồng. Nhóm các cháu sinh ra tại đây sau năm 1990 được hưởng những điều kiện thuận lợi hơn so với nhóm thứ nhất; nhưng không phải lúc nào các thành tích xuất sắc trong học tập và hoạt động ngoại khóa cũng rơi vào nhóm này. Nguyên nhân của vấn đề này cũng đã được nhiều nhà báo, xã hội học… của  Đức phân tích trong một số bài viết thú vị đã được đăng tải trên các báo. Để tiết kiệm thời gian quý báu của quý vị  tại buổi lễ này, tôi chỉ xin trình bày một số kết quả đáng khích lệ nhất của thế hệ người Việt Nam thứ hai cùng những phân tích ngắn gọn. Xin bắt đầu bằng vài số liệu dẫn chứng đã được đăng trên những tờ báo có danh tiếng ở Đức. Tháng 4 năm 2010, Süddeutsche Zeitung trong bài „Nur Bildung führt weg vom Reisfeld“ đã viết: „Những người có xuất xứ Việt Nam được coi là những người nhập cư thành đạt nhất – Bộ trưởng y tế Philipp Rösler chỉ là một ví dụ“… Thành công của người Việt Nam được thể hiện rõ ràng qua các con số: hơn một nửa trong số con cái của họ ở Mecklenburg-Vorpommern đỗ và các trường Gymnasium, ở Thüringen con số đó hàng năm thậm chí còn lên tới 63% – nhiều hơn hẳn so với các em học sinh sở tại. Ngay cả trong những chương trình lớn về học bổng cho học sinh của các gia đình nhập cư có tên gọi „Start-Programm“, số người Việt Nam cũng đứng trên mức trung bình. „Người Việt Nam là một trong những nhóm hội nhập tốt nhất của các nhóm nhập cư ở nước Đức“, đó là nhận xét của Đặc phái viên hội nhập bang Brandenburg Giáo sư người Potsdam, bà Karin Weiss.

„Die Welt“ viết hôm 06.02.2011: „Những học sinh tốt nhất ở Đức đến từ Việt Nam“ … Trong các trường Gymnasium ở các quận trước đây thuộc miền đông Berlin như Friedrichshain, Lichtenberg hoặc Marzahn có 15 % học sinh con em của các gia đình Việt Nam. Ngay trong môn toán và khoa học tự nhiên nhiều em trong số đó rất giỏi. Trên toàn liên bang có khoảng 59% học sinh Việt Nam học trường Gymnasium“. Không chỉ trong các môn học ở trường phổ thông, các cháu học sinh Việt Nam còn đạt được nhiều thành tích to lớn trong nhiều lĩnh vực như âm nhạc, hội họa v.v.  và thậm chí cả thể thao, một lĩnh vực mà do những hạn chế về tố chất thể lực so với các giống người châu Âu, ít ai nghĩ đến.

Hiện tượng này có nguyên nhân sâu xa của nó. Olaf Beuchling, một nhà nghiên cứu về giáo dục, phát biểu theo bài báo đã dẫn: “Các bậc cha mẹ Việt Nam rất ý thức về việc học hành (của con cái) và luôn đặt lên con cái những áp lực về thành tích học tập. Họ dành tất cả cho một sự học tập tốt, bằng mọi giá. Đó là truyền thống trong gia đình Việt Nam“. 

Nhìn lại điểm xuất phát đầy gian khổ của thế hệ thứ nhất cùng những nếp nghĩ truyền thống trong gia đình người Việt, chúng ta sẽ phần nào lý giải được vấn đề đã nêu. Và, cũng như đã nói ở trên, thực tế này không áp dụng được một cách  triệt để với các cháu thế hệ thứ hai được sinh ra ở đây. Đó có thể là nỗi băn khoăn của nhiều bậc cha mẹ Việt Nam! Nhưng tôi tin rằng, con đường hội nhập của các cháu sẽ khác, thành công hơn và không chỉ được đánh giá qua  những con số của thành tích. Khó khăn nằm ở chỗ, làm sao giữ được cho các cháu một chút tâm hồn Việt, một chút bản sắc Việt. Một chút thôi nhưng phải là những gì tinh hoa nhất. Phần còn lại con cháu chúng ta sẽ làm tiếp. Tất cả những mong ước ấy chỉ có thể thực hiện thông qua văn hóa, văn hóa hội nhập.        

Hội nhập là con đường dẫn đến thành công

Kính thưa các vị khách quý, thưa toàn thể anh chị em, bà con Viêt Nam thân mến. 

Nhìn lại quá khứ để định hướng cho tương lai, đó chính là mục đích sâu xa của những người tổ chức buổi lễ hôm nay. Những gì khó khăn nhất chúng ta đã vượt qua. Hôm nay chúng ta có thể nói với nhau rằng: cộng động người Việt đã đặt được những bước chân đầu tiên vào con đường „Hội nhập“. Nước Đức đã thật sự trở thành quê hương thứ hai của nhiều người Việt chúng ta và không chỉ đối với thế hệ thứ hai. Cộng đồng người Việt tại CHLB Đức muốn bầy tỏ với nhân dân Đức, nhà nước Đức sự biết ơn sâu sắc nhất về tất cả những gì nước Đức và người Đức đã dành cho chúng tôi trong nhiều năm qua. Không có những điều đó sẽ không có một cộng đồng người Việt lớn mạnh như hôm nay. Cộng đồng người Việt luôn coi việc gắn bó với nước Đức là sự sống còn của mình và hòa nhập vào xã hội Đức là nghĩa vụ công dân cao cả. 

Hội nhập tốt trên quê hương thứ hai – nước Đức – còn là sự đền ơn, đáp nghĩa đối với tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta. Đất mẹ Việt Nam cũng sẽ rạng danh khi những người con xa nhà ăn ở có đạo lý. Xây dựng một cộng đồng đoàn kết, cùng hội nhập chúng ta sẽ có cơ hội giúp nước tốt hơn.

Để kết thúc câu chuyện về hội nhập và phát triển, tôi muốn nhắc lại một hồi tưởng thú vị. Năm 1990, có một người Việt ở Potsdam vừa thất nghiệp. Anh ta lơ ngơ giữa ngã ba đường để chọn cho mình một lối đi: về hay ở lại. Anh đã chọn con đường ở lại và khởi nghiệp từ một xe bán Imbiss tại một con phố nhỏ đất Cố Đô. 25 năm sau người đàn ông đó mời tất cả chúng ta đến chỗ anh ta, cùng liên hoan với bạn bè Đức và chính quyền sở tại để ôn lại những cố gắng của người Việt mình trên con đường hòa nhập vào xã hội Đức. Người đàn ông đó nói với tôi: anh phải lên đây, nói với mọi người rằng „con đường hội nhập của người Việt trên nước Đức là có thật và nó là con đường dẫn đến sự thành công“. Người đàn ông Việt đó không phải ai khác, mà chính là ông Nguyễn Văn Hiền, chủ nhà của buổi lễ hôm nay, và, nơi chúng ta đang đứng đây là thành quả lao động của ông trong quá trình mày mò hội nhập. Tôi tin là ông đã nói đúng.

Chúc quý vị và các bạn có một buổi lễ thật vui và ý nghĩa. Xin cảm ơn sự chú ý của quí vị.

Deutsche Version der Rede:

https://drtruong.wordpress.com/2015/07/09/pham-ngoc-ky-erfolgreiche-integration-in-der-zweiten-heimat/

Interview mit Frau Christina Weber (Lufthansa Group) zum Thema „Umgang mit Corona in der Arbeitswelt“



🇻🇳 Phỏng vấn bà Christina Weber, Thành viên Hội đồng quản trị Tập đoàn Lufthansa và Chủ tịch Hội đồng xí nghiệp Tập đoàn LSG về chủ đề “Ứng xử với Corona trong thế giới việc làm” (Ngôn ngữ: Tiếng Đức – nội dung tóm tắt và bản dịch tiếng Việt sẽ được công bố sau)

🇩🇪 Interview mit Frau Christina Weber, Mitglied des Aufsichtsrates der Lufthansa Group und Konzernbetriebratsvorsitzende der LSG Group zum Thema „Umgang mit Corona in der Arbeitswelt“

Mit der vorliegenden Folge #15 von „Leben mit Corona – Podcast auf Vietnamesisch aus Berlin“ freue ich mich ganz besonders, Ihnen/Euch mein heutiges Telefoninterview mit Frau Christina Weber zum Thema „Umgang mit Corona in der Arbeitswelt“ präsentieren zu dürfen. Frau Christina Weber ist Mitglied des Aufsichtsrates der Lufthansa Group und Konzernbetriebratsvorsitzende der LSG Group, die mit einem Marktanteil von weltweit 30 Prozent der größte Anbieter von Bordverpflegung ist.

Im ersten Teil des Gespräches ging Frau Weber auf meine Fragen über die aktuellen Herausforderungen an die Lufthansa Group im allgemeinen (01:30) und an die LSG Group im besonderen (10:58), und zwar jeweils aus ihrer Sicht als Lufthansa-Aufsichtsrätin und LSG-Konzernbetriebratsvorsitzende ein. 

Im zweiten Teil stellte sie auf Bitte des Fragestellers den Betriebsrat als spezifisches Organ der Arbeitnehmervertretung in Deutschland (16:40), die Beziehungen zwischen Betriebsrat und Gewerkschaft und das System der deutschen Gewerkschaft in dessen besonderen Ausprägungen als Einheitsgewerkschaft (29:20) dar. Die in diesem Zusammenhang thematisierten Erfahrungen und Einschätzungen dürften von großem Nutzen und hoher Relevanz für ein Land wie Vietnam sein, welches im Zuge der Integration in die Weltwirtschaft schrittweise auch neue Formen der Interessenvertretungen der Arbeitnehmerschaft und der Austragung von Konflikten in der Arbeitswelt erproben und implementieren muss. 

Im dritten und letzten Teil des Gespräches nahm Frau Weber Stellung zur aktuellen Rassismus-Debatte und zu den Fragen der Integration von ausländischen Arbeitskräften in Deutschland ein (34:00) – immerhin setzen sich die Mitarbeiterinnen und Mitarbeiter aus den deutschen Standorten bei der LSG Gruppe aus mehr als 100 Nationalitäten zusammen! Zum Abschluss (41:30) gewährte sie einen Einblick in ihre persönlichen Engagements im Rahmen der Arbeit der jesuitischen Mission, über die Anknüpfungsspunkte zwischen ihrer Bildungsherkunft als katholische Theologin und ihren beruflichen Aufgaben in der modernen Wirtschaft und Industrie, und zuletzt über ihre tiefe Bindung zu Asien, speziell auch zur Region Südostasien und zum Land Vietnam.         

„Leben mit Corona – Podcast auf Vietnamesisch aus Berlin“
Folge 15, Dienstag 16.06.2020
, Dauer: 49 Minuten

“Sống chung với Corona – Podcast tiếng Việt từ Berlin”
Kỳ 15, thứ ba ngày 16.06.2020
, Thời lượng: 49 phút

Fragesteller / Người đặt câu hỏi: Trương Hồng Quang

Interview mit Ministerpräsident Bodo Ramelow / Phỏng vấn Thủ hiến Bodo Ramelow (Bang Thüringen, CHLB Đức)

 

🇩🇪  In der 11. Folge von „Sống chung với Corona – Podcast tiếng Việt từ Berlin“ („Leben mit Corona – Podcast auf Vietnamesisch aus Berlin“ ) haben wir heute nachmittags die große Ehre gehabt, ein Telefoninterview mit dem Ministerpräsidenten des Freistaates Thüringen, Herrn Bodo Ramelow, zu führen. Es ist insofern auch eine große Premiere, dass hiermit zum ersten Mal ein Gespräch im Rahmen des Podcast in deutscher Sprache  stattgefunden hat. Ursprünglich ist das Interview für ca. 20 Minuten geplant, am Ende ist es ein Gespräch von fast 40 Minuten geworden, in dem der Ministerpräsident geduldig auf alle Fragen des Gastgebers eingegangen ist.

Wir haben Herrn Ramelow u.a. nach seiner Einschätzung über den bisherigen Verlauf der Covid-19-Pandemie und die entsprechenden Bewältigungsstrategien durch die Bundesrepublik Deutschland und den Freistaat Thüringen, nach den bisherigen wichtigsten und schwierigsten Entscheidungen des Ministerpräsidenten gefragt.

Im Laufe des Gespräches hat der Ministerpräsident auf unsere Bitte hin aber auch zu Fragen der politischen Abstimmungsprozesse zwischen Bund, Ländern und den Kommunen (ab Minute 10:19), des gerade im Kontext der derzeitigen gesellschaftlichen Diskussion hochaktuellen und hochsensiblen Verhältnisses zwischen Politik und Wissenschaft  Stellung genommen (ab Minute 19:00), so auch zur in der Wochenzeitung „Die Zeit“, Nr. 20 vom 07.05.2020 erschienenen Debatte über die Frage „Lebensschutz oder Freiheit“ zwischen dem Philosophen Jürgen Habermas und dem Rechtstheoretiker Klaus Günther.

Der letzte Teil des Gespräches ist den Themen über die vietnamesische Community in Deutschland (ab Minute 28:20) und über die Beziehungen zwischen Thüringen/Deutschland und Vietnam gewidmet (ab Minute 32:15). Demnächst wird eine deutsche Textversion erstellt, es folgt anschließend eine vietnamesische Übersetzung.          

🇻🇳  Tại kỳ 11 của „Sống chung với Corona – Podcast tiếng Việt từ Berlin“ trong chiều nay (11.05.2020), chúng tôi đã có vinh dự được phỏng vấn qua điện thoại Thủ hiến Bang Thüringen (CHLB Đức), ông Bodo Ramelow. Sự kiện này còn thêm một ý nghĩa đặc biệt nữa bởi đây cũng là cuộc trò chuyện đầu tiên được thực hiện bằng tiếng Đức trong khuôn khổ của Podcast. Lúc đầu cuộc phỏng vấn dự kiến chỉ kéo dài khoảng 20 phút, nhưng cuối cùng, nó đã trở thành một cuộc trò chuyện dài gần 40 phút, trong đó Thủ hiến đã kiên nhẫn trả lời tất cả các câu hỏi từ phía chủ nhà.

Ông Ramelow đã đánh giá về diễn biến của đại dịch Covid 19 cho đến nay và các chiến lược đối phó tương ứng của Cộng hòa Liên bang Đức và Bang Thüringen, chia sẻ về những quyết định quan trọng nhất và khó khăn nhất của ông với tư cách là một chính trị gia.

Theo yêu cầu của người đặt câu hỏi, Thủ hiến cũng đưa ra những giải thích cặn kẽ về quá trình hoạch định chính sách ở Đức, về thể chế Liên bang, quan hệ giữa Liên bang, các Bang và địa phương, đặc biệt trong quá trình ban hành và thực hiện các chính sách phòng chống đại dịch hiện tại. Ông cũng chia sẻ quan điểm về mối quan hệ mang tính thời sự  và tính nhạy cảm rất cao giữa chính trị và khoa học, đặc biệt là trong các thảo luận hiện nay (bao gồm cả cuộc tranh luận gần đây nhất về câu hỏi “bảo vệ tính mạng  hay tự do” giữa nhà triết học Jürgen Habermas và nhà lý luận pháp lý Klaus Günther trên tờ báo “Die Zeit” /„Thời đại“, số 20 ra ngày 7 tháng 5 năm 2020).

Phần cuối của cuộc trò chuyện được dành cho các chủ đề về cộng đồng người Việt ở Đức và mối quan hệ giữa Bang Thüringen / CHLB Đức và Việt Nam. Trong thời gian tới  nội dung buổi nói chuyện bằng tiếng Đức sẽ được văn bản hóa và bản dịch tiếng Việt toàn văn bài phỏng vấn sẽ được công bố sau đó.

Leben mit Corona – Podcast auf Vietnamesisch aus Berlin“
Folge 11, Dienstag 11.05.2020

Sống chung với Corona – Podcast tiếng Việt từ Berlin“
Kỳ 11, thứ Ba ngày 11.05.2020

Fragesteller/Người đặt câu hỏi: Trương Hồng Quang 

Üben den Podcast:

Der Titel des Podcast „Sống chung với Corona“ (zu deutsch: „Leben mit Corona“) ist die Anspielung auf ein geflügeltes Wort in Vietnam, anstelle von „Corona“ steht dort ursprünglich aber das Wort „lũ“ (Flut/Hochwasser). So wie das ursprüngliche geflügelte Wort impliziert der Podcast-Titel, dass wir uns hier auf eine sehr große und langwierige gesamtgesellschaftliche, ja menschheitsgeschichtliche Herausforderung einstellen müssen. Besprochen werden nicht nur medizinische, sondern auch politische, ökonomische, soziale, kulturelle, religiöse und philosophische Themen, die für die Bewältigung der Krise in allen ihren Aspekten relevant sein können. Zu Wort kommen nicht nur Fachleute aus den verschiedenen Gebieten, sondern auch einfache Bürgerinnen und Bürger, die ihre Erlebnisse und Erfahrungen mit anderen Menschen teilen wollen. In einem engeren Sinne stellt der Podcast auch den Versuch dar, gerade in einer Zeit der „social distancing“ das persönliche Gespräch fortzuführen und zu pflegen. Schritt für Schritt werden nicht nur vietnamesische MuttersprachlerInnen, sondern auch deutsche Gäste zum Gespräch eingeladen, die Gesprächsinhalte werden dann ins Vietnamesische übersetzt und als Untertitel eingeblendet bzw. als als Begleittexte veröffentlicht.

Macher des ausschließlich aus Eigenmitteln finanzierten Podcast ist Dr. phil. Truong, Hong Quang, beeidigter Dolmetscher und Übersetzer für Vietnamesisch in Berlin und promovierter Literaturwissenschaftler.

 

„Bete für mich“/“Em cầu nguyện cho chị nhé“

 

Vào ngày 23 tháng 10 năm 2019, cảnh sát Anh đã phát hiện một chiếc xe tải với 39 người chết ở phía đông London, tất cả nạn nhân đều đến từ Việt Nam. Những người này là ai? Họ đã tới Anh như thế nào? KHUÊ PHẠM VÀ VANESSA VŨ kể câu chuyện về hai chị em sinh đôi – một trong hai người thuộc về những nạn nhân đã chết trên chiếc xe tải.

„Sống chung với Corona – Podcast tiếng Việt từ Berlin” đã có buổi trao đổi với nữ nhà báo Vanessa Vũ, đồng tác giả của phóng sự „Bete für mich“/“Em cầu nguyện cho chị nhé“ nhân dịp bài báo vừa được công bố trên tuần báo „DIE ZEIT“ (Thời đại), số 20, phát hành ngày thứ năm 07.05.2020 vừa qua.

Vanessa Vũ, tên khai sinh là Vũ Hồng Vân, sinh năm 1991 tại Eggenfelden (Bang Bavaria), có bố mẹ là người Việt Nam. Thời thơ ấu cô sống trong một trại tị nạn, gia đình cô từng đã bị đe dọa trục xuất khỏi CHLB Đức. Sau khi đỗ tú tài, Vanessa Vu học ngành Dân tộc học và Công pháp Quốc tế tại Đại học Ludwig-Maximilians ở München, sau đó học bậc Thạc sỹ ngành Đông Nam Á học với trọng tâm Sắc tộc và Xung đột ở London. Tiếp theo đó cô tốt nghiệp Thạc sỹ tại Học viện Báo chí Đức ở München. Hiện tại Vanessa Vu là Biên tập viên Chính trị – Xã hội của “Zeit Online”, phiên bản trực tuyến của tờ tuần báo Đức hàng đầu „DIE ZEIT“ (Thời đại).

Vanessa Vu từng được nhận Giải thưởng Báo chí Helmut Schmidt (2017) và đặc biệt là Giải Theodor-Wolff (2018), giải thưởng báo chí Đức danh giá nhất được trao tặng hàng năm, cho tác phẩm “Meine Schrottcontainerkindheit”. Cùng với một nữ nhà báo gốc Việt khác, Minh Thu Trần, cô là đồng tác giả của Podcast „Rice and Schine“, một Podcast bằng tiếng Đức hướng đến đối tượng chủ yếu là những người trẻ tuổi gốc Việt ở Đức.

Toàn văn bản dịch tiếng Việt của phóng sự sẽ được công bố trong thời gian tới trên „Zeit Online“.

Video-Podcast „Sống chung với Corona – Podcast tiếng Việt từ Berlin”
Video-Podcast „Leben mit Corona – Podcast auf Vietnamesisch aus Berlin”
#10, Thứ bảy/Samstag 09.05.2020

Người dẫn chuyện / Gesprächsführung: Trương Hồng Quang

“TO LOVE THE WORLD AS IT IS…” – Trò chuyện với doanh nhân Vũ Minh Anh (TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam)

 

Bản audio trên SoundCloud có thể nghe ở đây / Der Audio-Podcast ist hier zu hören:
https://soundcloud.com/user-802727772/song-chung-voi-corona-08

🇩🇪 Talk mit dem deutsch-vietnamesischen Touristikmanager Vu Minh Anh, Gründer und Geschäftsführer der Firma „Terraverde – Travel with your Senses“, Ho-Chi-Minh-Stadt, Vietnam. Im Rahmen des Podcasts spricht Vu Minh Anh über die Herausforderungen der Pandemie COVID-19 an die Gesellschaft und Wirtschaft in Vietnam und in der Welt, die unterschiedlichen Sichten über die Krisenbewältigung in Asien und Europa und über die Potenziale der deutsch-vietnamesischen Zusammenarbeit, nicht nur im Bereich der Wirtschaft und des Handels. Eine ausführliche deutsche Fassung des Gespräches wird in den nächsten Tagen nachgereicht.

„Theo tôi nghĩ, Việt Nam đang ở trong một giai đoạn với những cơ hội rất lớn. Năm 1975, khi thống nhất đất nước, đó là một sự đổi mới về chính trị, thể chế. Năm 1986 là sự chuyển hóa về kinh tế. Và bây giờ, năm 2020, biết đâu đã đến lúc chúng ta có một sự chuyển hóa về văn hóa để có sự cởi mở nhất định, để quên đi những thành kiến, những “ideology” (ý thức hệ); để chúng ta cùng ngồi lại với nhau và có sự trao đổi thiết thực. Tôi phần nào bị ảnh hưởng bởi triết lý của bà Hannah Arendt, gọi là “Denken ohne Geländer”, tức là tư duy không cần tay vịn, không cần phải vịn vào bất cứ một học thuyết nào cả. Và đến với nhau bằng một tâm thế muốn học hỏi, muốn hiểu chúng ta đang sống trong xã hội nào và mô hình nào, đường đi nào là đường đi tốt nhất để chúng ta tiếp tục sau đại dịch này.“

YÊU THẾ GIỚI NHƯ NÓ HIỆN TỒN …
Trò chuyện với doanh nhân Vũ Minh Anh (TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam)

Video-Podcast “Sống chung với Corona – Podcast tiếng Việt từ Berlin” / Video-Podcast „Leben mit Corona – Podcast auf Vietnamesisch aus Berlin“

# 08, Thứ bảy/Samstag, 25.04.2020

Vũ Minh Anh là một doanh nhân Đức gốc Việt, nhà sáng lập và giám đốc điều hành công ty du lịch “Terraverde” có trụ sở tại TP. Hồ Chí Minh. Trong buổi trò chuyện anh nói về các thách thức do đại dịch COVID-19 đặt ra đối với xã hội và nền kinh tế ở Việt Nam cũng như trên thế giới, bình luận về những phương thức xử lý khủng hoảng khác nhau ở châu Á và châu Âu và chia sẻ ý kiến về các tiềm năng hợp tác Đức-Việt trong tương lai, không chỉ trên lĩnh vực kinh tế và thương mại. 

Update ngày thứ năm 30.04.2020:

Tạp chí „VĂN HÓA NGHỆ AN“ (VHNA) vừa văn bản hóa buổi trò chuyện và công bố trên ấn bản điện tử. Xin cảm ơn Tòa soạn, cá nhân Tổng Biên tập Chu Thị Xuyến, Biên tập viên Trang Đoan là người đã kỳ công thực hiện gỡ băng và biên tập, và TS. Nguyễn Đức Mậu, Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, đại diện của VHNA tại Hà Nội đã cùng góp sức để bài viết được ra mắt kịp thời. Lời cảm tạ sâu sắc nhất, một lần nữa, xin dành cho doanh nhân Vũ Minh Anh, khách mời của chương trình trò chuyện này, mong những chia sẻ của anh sẽ đến với rất nhiều khối óc và trái tim Việt, bất luận chúng ta xuất phát từ một chiến tuyến nào, trong ngày đặc biệt hôm nay:

http://www.vanhoanghean.com.vn/component/k2/33-khach-moi-cua-tap-chi/13942-yeu-the-gioi-nhu-no-hien-ton-tro-chuyen-voi-doanh-nhan-vu-minh-anh-tp-ho-chi-minh-viet-nam


Các thông tin về công ty “Terraverde” xin đọc ở đây / Weiterführende Informationen über die Firma „terraverde“ siehe hier:  

www.terraverde.events
https://zeitreisen.zeit.de/menschen/vu-minh-anh/

Người dẫn chuyện / Gesprächsführung: Trương Hồng Quang

TRÒ CHUYỆN VỚI TS ĐÀO MINH QUANG VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN CỘNG ĐỒNG VÀ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TẠI CHLB ĐỨC

 

🇩🇪 Talk mit Dr. Dao Minh Quang über die Folgen der Pandemie Covid-19 auf die vietnamesische Community und auf die vietnamesischen Unternehmen in Deutschland 

Bản audio trên SoundCloud có thể nghe ở đây:
https://soundcloud.com/user-802727772/song-chung-voi-corona-07 

Video-Podcast “Sống chung với Corona – Podcast tiếng Việt từ Berlin”
Video-Podcast „Leben mit Corona – Podcast auf Vietnamesisch aus Berlin“

Kỳ/Folge 07, Thứ bảy/Samstag, 18.04.2020

Trong buổi trao đổi gần một tiếng đồng hồ, TS Đào Minh Quang, một chuyên gia kinh tế và doanh nhân gốc Việt thành đạt tại CHLB Đức, đã chia sẻ các đánh giá của ông về ảnh  hưởng của đại dịch Covid-19 đến cộng đồng và các doanh nghiệp Việt Nam tại Đức, phân tích và bình luận về các chính sách hỗ trợ tài chính của chính phủ Đức đối với các doanh nghiệp, đưa ra một số gợi ý cho các chủ doanh nghiệp Việt Nam tại Đức trong việc quản lý rủi ro trong đại dịch và xây dựng chiến lược kinh doanh mới để phát triển bền vững trong tương lai.

Về Quỹ Đào Minh Quang do TS Đào Minh Quang sáng lập xin đọc ở đây:
https://www.dao-stiftung.com/  

Người dẫn chương trình:  Trương Hồng Quang

SỐNG CHUNG VỚI CORONA (Podcast bằng tiếng Việt từ Berlin #04)

 

SỐNG CHUNG VỚI CORONA
Podcast từ Berlin – Kỳ 04 – 05.04.2020 

Trò chuyện với chị Đỗ Thu Hà, người đồng sáng lập và phụ trách chính NHÓM CHUNG TAY, một trong những nhóm thiện nguyện của cộng đồng người Việt ở CHLB Đức ngay từ đầu đại dịch Covid-19 đã tổ chức việc may, quyên góp và tặng khẩu trang cũng như tiến hành những hoạt động hỗ trợ khác đối với các bệnh viện, các cơ sở y tế và xã hội ở Đức.

Trong buổi trao đổi chị kể về những hoạt động từ trước đến nay của nhóm, về phản hồi của các cá nhân và tổ chức được hỗ trợ, trải nghiệm của bản thân về những người bạn Đức đang đứng ở tuyến đầu phòng chống dịch ở các bệnh viện, cơ quan cảnh sát, cứu trợ v.v.

Đỗ Thu Hà cũng chia sẻ về những thách thức do cuộc khủng hoảng y tế, kinh tế, xã hội đặt ra đối với chị trong tư cách là một thành viên cộng đồng và một doanh nhân (chị là Trưởng Văn phòng Thuế “Plus Berlin” và đồng thời là Giám đốc của Trung tâm du học “German Institute” có trụ sở ở Hà Nội), đề xuất ý tưởng về những nỗ lực cần có trong thời gian tới và hướng đi tương lai của cộng đồng. 

Người đặt câu hỏi: Trương Hồng Quang

SỐNG CHUNG VỚI CORONA (Podcast bằng tiếng Việt từ Berlin #03)

 

“Đại dịch Corona và các thách thức đặt ra đối với nền kinh tế, tài chính và thương mại toàn cầu”

SỐNG CHUNG VỚI CORONA – Podcast bằng tiếng Việt từ Berlin #03 – Phát vào ngày thứ bảy, 28.03.2020

Trò chuyện với Kinh tế gia Trần Quốc Hùng (Washington DC, Hoa Kỳ) về diễn biến mới nhất của dịch bệnh COVID-19 tại Hoa Kỳ, các thách thức đặt ra hiện nay đối với nền kinh tế, tài chính và thương mại toàn cầu. Trong khuôn khổ buổi trao đổi ông đã bình luận về kết quả của Hội nghị thượng đỉnh G20 họp trực tuyến hôm thứ năm vừa qua (26.03.2020), so sánh chính sách kích cầu giữa Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu và Trung Quốc và trình bày một số gợi ý về chính sách phát triển kinh tế ở Việt Nam.       

Người đặt câu hỏi: Trương Hồng Quang

Giới thiệu về khách mời của chương trình:
Trần Quốc Hùng là một kinh tế gia Hoa Kỳ gốc Việt. Từ năm 2007 đến khi nghỉ hưu năm 2018 ông làm việc tại Viện Tài chính Quốc tế (IIF). Từ năm 2012, ông giữ vị trí Giám đốc điều hành IIF, đồng thời phụ trách bộ phận chính sách thị trường mới nổi và phân tích thị trường vốn toàn cầu. Trước khi gia nhập IIF, ông đã có sáu năm làm việc tại Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) với tư cách là Phó giám đốc của Bộ phận Thị trường tiền tệ và Thị trường vốn, và là người chịu trách nhiệm chính về Báo cáo Ổn định Tài chính Toàn cầu của IMF. Từ năm 1998 đến 2001, ông làm việc tại London với tư cách là Giám đốc điều hành, Nhà kinh tế trưởng và Trưởng phòng nghiên cứu toàn cầu tại Rabobank International. Trước đó ông đã có 12 năm làm việc cho Deutsche Bank tại các trụ sở ở New York, Frankfurt và Singapore, bao gồm các chức vụ Giám đốc nghiên cứu thu nhập cố định toàn cầu (1987-90) và Giám đốc điều hành của Deutsche Bank Research (1991-95). Trong giai đoạn khởi đầu sự nghiệp của mình, ông đã phục vụ ở các vị trí cấp cao trong nghiên cứu thu nhập cố định quốc tế cho Merrill Lynch (1984-1987) và Salomon Brothers (1979-1984) ở New York.

Tài liệu tham khảo:

Xin đọc thêm hai bài viết mới gần đây nhất của tác giả được đề cập đến trong buổi trao đổi hôm nay:

https://www.atlanticcouncil.org/blogs/new-atlanticist/what-the-g20-needs-to-do-to-combat-the-global-coronavirus-economic-crisis/

https://www.atlanticcouncil.org/blogs/new-atlanticist/the-coronavirus-recession-deepens-financial-market-turmoil/

Thông tin bằng tiếng Anh về tác giả:

https://www.theglobalist.com/contributors/hung-tran/

Ghi chú:

Trong khi trao đổi Kinh tế gia Trần Quốc Hùng có một chỗ nói lầm “2 nghìn triệu tỷ”, thay cho “2 nghìn tỷ USD” về quả kích cầu của Hoa Kỳ (2 trillion $), sau khi nghe lại băng ông đã đề nghị biên tập đính chính lại chi tiết này. Về phía người đặt câu hỏi có chỗ thay nói “chiến tranh thương mại Mỹ – Trung” lại đã nói nhầm thành “chiến tranh thương mại Mỹ – Hoa Kỳ” (!), rất mong quý thính giả lượng thứ cho những sai sót kỹ thuật này. Nhóm thực hiện sẽ cố gắng hết sức để Podcast ngày càng trở nên hoàn thiện hơn!

“SỐNG CHUNG VỚI CORONA – Podcast bằng tiếng Việt từ Berlin” #03 cũng đã được tiếp sóng trên kênh Mạng lưới chuyên gia xử lý khủng hoảng từ CHLB Đức (Berlin Crisis Solutions BCS). Xin chân thành cảm ơn nhà sáng lập BCS, nhà nghiên cứu và nhà báo Lê Ngọc Sơn! 

Bổ sung ngày 03.04.2020:

Tạp chí “Văn hóa Nghệ An” (VHNA) vừa công bố bản ghi chi tiết cuộc trò chuyện với kinh tế gia Trần Quốc Hùng trong khuôn khổ chương trình “Sống chung với Corona – Podcast từ Berlin”, kỳ 3 phát ngày thứ bảy 28.03. vừa qua. Xin chân thành cảm ơn VHNA và Tổng biên tập Chu Thị Xuyến về sự hợp tác rất quý giá và kịp thời này! Xin cũng chuyển lời cảm ơn đặc biệt đến chị Trang Đoan là người đã dày công thực hiện một bản ghi hết sức tỉ mỉ và chính xác, cảm ơn TS. Mậu Nguyễn Đức (Viện Văn học, Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), đại diện của VHNA tại Thủ đô Hà Nội, đã giúp kết nối với Tòa soạn và tổ chức thực hiện bản thảo!

Xin trân trọng giới thiệu bài viết với tất cả các quý vị và bạn đọc quan tâm!

http://vanhoanghean.com.vn/…/13837-dai-dich-covid-19-va-cac…

Chúng ta được phép nhân nhượng tới mức nào trước một nước Trung Hoa độc đoán?

Tóm tắt một số câu trả lời của Theo Sommer, nguyên Tổng biên tập lâu năm của tờ tuần báo Đức “DIE ZEIT” (Thời đại), nguyên là quan chức cao cấp của Chính phủ Đức, về ba vấn đề nóng bỏng nhất hiện nay trong chính sách với Trung Quốc: Hồng Kông, thương chiến Mỹ-Trung và Tân Cương. Tổng thuật từ bài báo mới công bố sáng nay của tác giả trên “ZEIT ONLINE”.

Về vấn đề Hồng Kông: Theo Sommer (TS) đúng là các lực lượng dân chủ đã dành được đa số tại 17 trên 18 hội đồng quận trong bầu cử vừa qua, với tỷ lệ 81 % số ghế cho lực lượng dân chủ và 15,6 % số ghế cho các lực lượng ủng hộ Bắc Kinh. Tuy nhiên kết quả này sở dĩ có được là do quy định về tỷ lệ đa số trong luật bầu cử của Hồng Kông, không phản ánh được thực chất tỷ lệ các số phiếu của cử tri: Theo đó thì có 57,10 %  số phiếu ủng hộ phe dân chủ, 45% ủng hộ Bắc Kinh. Tỷ lệ này không khác biệt so với kết quả thăm dò dư luận trước đó: 55 % có thiện cảm với phe dân chủ, 45% nghiêng về ủng hộ Bắc Kinh. Kết luận của TS:  Hồng Kông vẫn là một thành phố bị chia rẽ sâu sắc.

Về  thương chiến Mỹ-Trung:  Nếu trong những tuần lễ tới hai bên không đi đến nhượng bộ, thuế nhập khẩu cho hàng Trung Quốc vào Mỹ sẽ tăng lên 24%, cho hàng Mỹ vào Trung Quốc sẽ tăng lên 26%. Theo TS phía chịu thiệt hại chính không phải là Trung Quốc, mà là Mỹ. Việc áp dụng các chính sách thuế hải quan cho đến nay khiến cho mỗi hộ gia đình ở Mỹ phải chịu một gánh nặng tài chính hàng năm gồm 620 USD, nếu tiếp tục gia tăng thuế hải quan, gánh nặng này sẽ tăng gấp đôi. Khác với các dự báo cho đến nay, việc tăng thuế hải quan vẫn không hề khiến Trung Quốc giảm giá các sản phẩm của mình. Một ví dụ cho phương thức phản ứng của Trung Quốc: Bắc Kinh đánh thuế 25% cho tôm hùm nhập khẩu từ Mỹ, với hệ quả là việc xuất khẩu từ Mỹ bị giảm bớt 70%,  đồng thời giảm thuế nhập khẩu tôm hùm từ Canada xuống mức 3%, với hệ quả là việc xuất khẩu từ Canada tăng lên gấp đôi. Kết quả đối với người tiêu dùng của Trung Quốc: Giá tôm hùng cùng chủng loại và chất lượng giờ đây đã giảm xuống. Cho đến hiện tại Trung Quốc đã khắc phục các hậu quả của cuộc thương chiến tốt hơn Mỹ. Thiệt hại lớn nhất đối với Trung Quốc do khu vực kinh tế tư nhân ở đó gánh chịu (với 90% tỷ trọng xuất khẩu), khu vực kinh tế nhà nước lại được củng cố. Kết luận của TS: Tổng thống Trump, theo lẽ thông thường, bắt buộc phải dừng bước trước bờ vực thẳm của cuộc thương chiến.

Về vấn đề Tân Cương: Câu hỏi cụ thể mà TS đặt ra ở đây là liệu các tập đoàn của Đức như Volkswagen, BASF, Bosch hay Siemens có được phép mở nhà máy, đầu tư ở Tân Cương, nơi có hơn một triệu người Duy Ngô Nhĩ theo đạo Hồi đang bị giam giữ trong các trại cải tạo? Câu trả lời: Quá một nửa công ty DAX (chỉ số chứng khoán quan trọng nhất của Sở giao dịch chứng khoán Frankfurt, bao gồm 30 công ty Đức lớn nhất) phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Ai yêu cầu các Chủ tịch Tập đoàn kinh tế Đức đương đầu với Bắc Kinh, người đó phải chấp nhận sự tồn vong của nền kinh tế Đức, việc làm và sự thịnh vượng của người Đức cũng sẽ bị đe dọa. 

Liên hệ của người điểm báo hay là cái moral of the story: „It’s the economy, stupid!“ (Bill Clinton, 1992)

Nguồn: https://www.zeit.de/politik/ausland/2019-12/china-hongkong-uiguren-arbeitslager-usa-handelskrieg/komplettansicht 

Heinz Bierbaum, CÔNG ĐOÀN Ở ĐỨC VÀ CHÂU ÂU

 

Tại một hội thảo chuyên đề về hợp đồng lao động do Viện nghiên cứu lập pháp thuộc Uỷ ban thường vụ Quốc hội Việt Nam và Quỹ Rosa Luxemburg (CHLB Đức) đồng tổ chức vào 22-23 tháng 11 năm 2018 ở Quảng Ninh, GS. TS. Heinz Bierbaum đã trình bày một tham luận về chủ đề “Công đoàn ở Đức và châu Âu”. Heinz Bierbaum là thành viên của Công đoàn Kim loại (IG Metall) từ 1972, nguyên là GS. Kinh tế tại Đại học Kỹ thuật và Kinh tế Saarland, nguyên Phó Chủ tịch Đảng Cánh tả Đức và hiện là Trưởng ban Quốc tế của Đảng. Trong khuôn khổ một thuyết trình ngắn (với thời lượng 25 phút), tác giả đã giới thiệu một cái nhìn tổng quan về lịch sử, hệ thống công đoàn ở châu Âu, đặc thù của các tổ chức công đoàn ở Đức trong so sánh với công đoàn ở Anh và Pháp và những thách thức lớn nhất đang đặt ra đối với hoạt động của công đoàn.  Được sự đồng ý của GS. Heinz Bierbaum, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc quan tâm bản thảo bài viết bằng tiếng Anh và phần dịch audio tiếng Việt trực tiếp từ nội dung thuyết trình bằng tiếng Đức của tác giả tại hội thảo.

Tin cập nhật (22.12.2019): GS. TS. Heinz Bierbaum vừa được bầu giữ vị trí Chủ tịch Đảng Cánh tả châu Âu, thay cho TS. Gregor Gysi, xin chân thành chúc mừng ông!

 

Heinz Bierbaum, Trade Unions in Europe and Germany

 

Bierbaum

GS. TS. Heinz Bierbaum
Nguồn: www.euro-betriebsrat.de

 

Trade unions play a major role in the economic and social system in Europe. They determine the industrial relations and the conditions under which people work. Of course, they have to act within the framework of labour laws and status. Trade unions differ from each other concerning history, tradition and ideology. Mostly they have their origins either in the Christian or in the Socialist-Communist tradition. Very often they are linked to political parties. A good example for this are the trade unions in Great Britain which are closely linked to the Labour Party. Another example is France where we have six trade union confederations according to different ideology and political orientation. On the other hand there are trade unions which are autonomous and independent. This is the case for the German trade union. The DGB as it is today was founded after World War II as a politically independent organization as a consequence of the political divisions in the period of the Republic of Weimar. Autonomy is crucial for German trade unionism.

 The far majority of the European trade unions are members of the European Trade Union Confederation (ETUC). ETUC comprises 90 national trade unions in 38 countries and has 10 federations according to different branches like industry, transport, food, services and so on. ETUC doesn’t act like a national trade union but has a coordinating function. In particular it tries to influence the European policy in order to strengthen the social dimension of economic activities. The objective is to ensure that the European Union is not just a single market but is also contributing to a Social Europe. ETUC is committed to worker’s rights and quality jobs. 

Trade unions in Germany

The DGB, the German Trade Union Confederation is the umbrella organisation for 8 German trade unions representing about 6 million people. The two biggest federations are IG Metall, the metal workers’ trade union with about 2,3 millions members, and ver.di, the trade union of public services including also commerce and banks with about 2 millions members. The other trade unions are IG BAU for agriculture, environment and the construction area, IG BCE for the chemistry and energy sector, EVG for railway workers, GEW, the teachers’ trade union, NGG in the food industry and catering and GdP, the police’ trade union. 

The DGB is politically autonomous and independent. And it’s by far the biggest trade union. There is also a so-called Cristian trade union confederation (CGB), which is, however, very small and doesn’t play a major role and has not the power to negotiate collective agreements. Being independent and autonomous does not mean that the trade unions in Germany are unpolitical. They act also politically but not directly in the interest of political parties even if the majority is close to SPD, the social-democratic party. Of course, also the other parties – CDU, Greens and DIE LINKE have their relations. In 1990 after the reunification of Germany the members of the trade union confederation of the German Democratic Republic (FDGB) joined the members of the DGB. Taking into consideration of the very different culture and functioning of these trade unions that was not an easy process.  

DGB as the umbrella organisation has a coordination function for the member unions and is not directly involved in collective bargaining and does not conclude collective labour agreements. This is different to other European countries where the trade union confederation as umbrella organization plays a major role. The DGB represents the member unions in contact with the government authorities, the political parties and the employers’ organizations.

It’s typical for the industrial relations in Germany that the remuneration – wages and salaries – and the conditions of work are regulated by collective agreements negotiated between the trade unions and the employers’ associations. Of course, there are also laws regarding working conditions. For example, the law about working hours. The laws, however, are only a framework with some minimum standards. In the end the standards are established by collective agreements. 

Concerning the trade union activities, on company level we have a special situation in Germany in contrast to other European countries. The Works Constitution Act regulating the implementation and the rights of works councils does not refer to the trade unions. The members of the works councils are not necessarily members of a trade union. This is different in other European Countries where the activity of trade unions is regulated in the labour statute. In reality, however, also in Germany the trade unions play an important role in the companies. The activity of the unions is covered by the constitution. It’s a constitutional right. The unions have the right of access to the companies, they have the right to organize the implementation of works councils and they are normally involved in the negotiations of agreements on company level. And the majority of the members of the works councils are members of trade unions. Some trade unions have also an informal structure in the companies, the so-called trade unions representatives. The work councils have a wide range of participation rights concerning working conditions, working hours, implementation of new organizational structure and new technologies and also in the case of restructuring. They are mainly concerned with the social consequences of decisions taken by the employer. The works councils don’t have participation rights regarding economic decisions. There is no economic co-determination on plant’s level. But in the case of extensive restructuring with major consequences for the employees they have the right to have experts and to present alternatives which the employer has to consider seriously. This is not always successful but often the planning of the management can be modified in the interest of the workers. 

“Mitbestimmung” – co-determination – is another characteristic element of industrial relations in Germany. In enterprises or groups with more than 2.000 employees

the supervisory board is equally composed by representatives of capital and labour. And concerning the coal and steel industry the responsible for Human Resources in the management board can’t be nominated against the vote of the labour representatives. Because the most important decisions taken by the management have to be approved by the supervisory board the labour representatives, i.e. members of the works council and unionists, have some influence on the corporate policy and strategy. This concerns in particular the investment policy and also cases of closure, mergers or acquisitions. But the influence is not that high as it is often thought from outside. You may assume that there are a lot of conflicts. Of course, there are conflicts. But in practice predominates cooperation. The main advantage for the trade unions and the employees is the additional information they get in the supervisory board and to anticipate and resolve possible social problems in advance. Some call that system co-management. Certainly, there are some cases, where it could called like this, but in general that’s exaggerated in my opinion.

IMG_4173

(Khai mạc hội thảo, ảnh chụp từ cabin phiên dịch)

Collective bargaining

Collective bargaining is the core activity of trade unions. Collective bargaining means wage negotiations but also negotiations of working conditions. Collective bargaining power is crucial for the trade unions. In this regard there are differences in Europe. While in Germany most of the working conditions are regulated by collective agreements between trade unions and employers’ associations, in France more questions rae regulated politically. The 35-hour week for example was introduced by law in France. 

The trade unions have the right to strike in order to support such negations. On the other hand, the employers’ associations have the right to lock out. The right to strike is limited to collective bargaining, political strikes are not permitted – at least in Germany. And there are regulations to be taken in consideration if a trade union wants to proclaim a strike. In Germany we have a strict regulation of the right to strike. When starting the negotiation of a new collective agreement the trade unions are obliged to keep the peace for a certain period. And if they want to strike a referendum among the union members has to be held. Only if at least 75 % are in favour the trade union can proclaim a strike. In other European countries like in France or in Italy the hurdles for proclaiming a strike are not so high. Normally the wage rounds in Germany are accompanied by so called token strikes which don’t need that regulation procedure.  

Collective agreements concern wages, salaries and working conditions. Recently IG Metall and ver.di reached collective agreement with remarkable wage increases. This was not always the case. The success depends on the strength of the trade union, but also on the economic conditions. 

Concerning the working conditions, working hours are a big issue. I’m referring to the 35-hour week first demanded by IG Metall and other German trade unions, but becoming immediately an European issue. There was a big campaign and a long strike in Germany in the 1980s. At the end that demand was realized. The implementation of the 35-hour week on plant level, however, was more in favour of the employers with a very flexible organization according to the rhythm of the production and the market. Actually, in many companies the employees work longer than 35 hours. There is a lot of overtime. Today we have a new discussion regarding the reduction of working hours. The Left demands the 30-hour week and also within the trade unions there is a discussion about a general reduction of working hours combined with the demand of a more participatory labour organization. IG Metall reached recently an agreement concerning the working hours which provides the reduction of the working hours to only 28 hours a week for a period of two years as a compensation for hard working conditions (shift work for example) or to have more time for the care of relatives or for the education of children. For the first time the trade unions reached a flexible regulation of working hours in the interest of the workers. Therefore, it’s no wonder that this agreement was acknowledged and discussed all over Europe.

European Works Councils 

Trade unions act mostly nationally. Although there have been several attempts for a coordination between the different trade unions in the European countries concerning also collective bargaining, they all failed more or less. But there is one exception, and this concerns works-councils. For Europe-wide acting companies a European Directive provides the implementation of European works councils. They have the right to be informed and consulted on transnational issues. Participation rights are not intended. Nevertheless, the European works councils are useful because they permit an exchange of information and experiences between the employees’ representatives of the different European countries. They can play an important role in the case of Europe-wide restructuring. They open the possibility to negotiate with the management in order to achieve solutions which avoid harmful social consequences. To give you an example I refer to the merger of Alstom, a French company, and Siemens, a German company, in the mobility sector (railways). There was a process of information concerning economic figures, corporate strategy etc.  supported by trade union experts. This is the basis for the on-going negotiations for a job guarantee.   

IMG_4169

(Hai phiên dịch cabin Đức Việt của hội thảo)

Future prospects

Without doubts the trade unions influence wages, the conditions of work and partly also corporate policy. But this depends on the strength of the trade unions and the union density. Unfortunately, the unison density is declining. The overall rate of unionism in Germany is about 20 %. That’s rather low. And it’s even less in France or in Spain, it’s higher in Great Britain or in Italy. There are, however, big differences between the different sectors. The trade unions are normally stronger in industrial sectors than in services. The strength of the German trade unions is based on a high union density in some industrial key sectors like the automotive industry, in particular in big companies like VW, Audi, Daimler, BMW or Ford and Opel.

Trade Unions act also politically, not as parties, but they have a political mandate representing the employees. They try to influence politics. This is true in particular regarding social policy and industrial policy. The biggest challenge today for the unions is the digitalization, the so-called industry 4.0, a new phase of industrialization. There is an important impact on the way of production, working conditions and skills. Regarding this issue there is also a cooperation between the government, employers’ association and the trade unions in Germany.

In Europe trade unions are weakened by the neoliberal labour market reforms. They intend more flexibility, less protection against dismissal and in particular the priority of company agreements instead of collective agreements negotiated by the trade unions. Thus, collective bargaining power, the main trade union activity, is weakened. With the exception of the Nordic countries union density has been reduced in Europe and the coverage by collective agreements is declining.  

To summarize I’d like to say that the trade unions’ power has been declining in the last years – regarding collective bargaining and political influence. But they are still of great importance for workers’ and employees’ protection. Remuneration and workings conditions are essentially regulated by trade unions. They still play an important role for social policy and social justice in confrontation with neoliberal politics. But they act mainly national and not Europe-wide. The European organizations of trade unions are rather weak. They have a coordination function and intend to influence European policy towards more social and also ecological responsibility.  Recently the European Commission adopted a pillar of social rights. This is a step forward, but certainly not sufficient. It has to be transformed in binding social rights. The working conditions, however, are more and more influenced by European directives and regulations. Therefore, it’s necessary to strengthen the European organizations of the trade unions. A social and democratic Europe as is it is requested by the Left will never be reached without strong European trade unions.  

September 2018