“Und was verschwand wird mir zu Wirklichkeiten” – Dịch giả Quang Chiến đọc từ bản dịch vở bi kịch “Faust” của J. W. Goethe

“Những gì trước mắt ta, giờ lùi xa, xa mãi,
Những gì ta mất đi, nay sống lại trong lòng.”

Trích buổi đọc tác phẩm và giao lưu với dịch giả và nhà thơ Quang Chiến (1941-2021) tại trụ sở Tạp chí văn hoá – xã hội Đức-Việt “Đối Thoại”, Berlin ngày 19.08.1992

Phần II: Giới thiệu về dự án dịch vở bi kịch “Faust” của J. W. Goethe ra tiếng Việt và trích đọc từ bản thảo

[01:00] Giới thiệu dự án
[04:44] Đọc phần “Đề tặng”
[08:20] Đọc trích đoạn “Thật sung sướng thay cho ai đó còn hy vọng”
[10:30] Đọc trích đoạn “Băng giá đã tan rồi nơi con suối, dòng sông”
[12:35] Đọc trích đoạn “Gã chăn cừu sắm sanh đi nhảy múa”
[15:11] Chia sẻ về phương pháp dịch tác phẩm văn học
[17:45] Đọc trích đoạn “Lạy ông nhân đức, lạy bà hào hoa”
[18:33] Chia sẻ về các đồng nghiệp dịch giả văn học (đặc biệt về hai dịch giả Phạm Mạnh Hùng và Nguyễn Thụy Ứng)

Phần âm nhạc mở đầu và kết thúc: Trích đoạn từ Chương 1 “Faust” và Chương 2 “Gretchen” từ bản Faust-Sonata của nhạc sĩ Đặng Ngọc Long (do chính tác giả biểu diễn)

Ảnh chân dung dịch giả Quang Chiến của dịch giả Đoàn Tử Huyến (1952-2020)

SỐNG CHUNG VỚI CORONA – PODCAST VIỆT-ĐỨC TỪ BERLIN
KỲ 27, THỨ TƯ 08.12.2021
WWW.DRTRUONG.DE

🇩🇪 “Was ich besitze seh’ ich wie im weiten,
Und was verschwand wird mir zu Wirklichkeiten”

Aus der Lesung und Diskussion mit dem Literaturübersetzer und Dichter Quang Chiến (1941-2021) in der Redaktion der deutsch-vietnamesischen Kulturzeitschrift “Đối Thoại”, Berlin den 19.08.1992

Teil II: Vorstellung des Projektes zur vietnamesischen Nachdichtung der Tragödie “Faust” von J. W. Goethe und Lesung einiger Auszüge aus dem Manuskript

[01:00] Vorstellung des Projektes
[04:44] Lesung “Zueignung”
[08:20] Lesung “O glücklich, wer noch hoffen kann”
[10:30] Lesung “Vom Eise befreit sind Strom und Bächer”
[12:35] Lesung “Der Schäfer putzte sich zum Tanz”
[15:11] Über die Literaturübersetzung
[17:45] Lesung “Ihr guten Herren, ihr schönen Frauen”
[18:33] Über die Literaturübersetzer in Vietnam (insbesondere über Phạm Mạnh Hùng und Nguyễn Thụy Ứng)

Musikalischer Einstieg und Ausklang: Aus dem 1. Satz “Faust” und dem 2. Satz “Gretchen” der Faust-Sonata für die klassische Gitarre des Komponisten Đặng Ngọc Long (vom Komponisten sebst gespielt)

Porträtfoto von Quang Chiến: Đoàn Tử Huyến (1952-2020)

LEBEN MIT CORONA – DEUTSCH-VIETNAMESISCHER PODCAST AUS BERLIN
FOLGE 27, MITTWOCH 08.12.2021
WWW.DRTRUONG.DE

“Doch jene Wolke blühte nur Minuten…” – Tưởng niệm dịch giả – nhà thơ Quang Chiến (Ngô Quang Phục) 1941-2021

“Nhưng áng mây trắng trôi
Chỉ bồng bềnh giây lát…”

Tưởng niệm dịch giả – nhà thơ Quang Chiến (Ngô Quang Phục) 1941-2021

Trích buổi đọc tác phẩm và giao lưu với dịch giả và nhà thơ Quang Chiến tại trụ sở Tạp chí văn hoá – xã hội Đức-Việt “Đối Thoại”, Berlin ngày 19.08.1992

Phần I với các tác phẩm dịch thơ của Johannes R. Becher („Gần nhau”) – từ phút 02:00 -, Bertolt Brecht (“Hồi tưởng Marie A.”) – từ phút 03:35 -, Heinrich Heine (“Một cô ả”, “Chính bởi yêu em”, „Anh đã giấu người đời”, „Năm tháng sẽ qua đi”) – từ phút 25:00 – và hai trích đoạn từ tiểu thuyết “Nỗi đau của chàng Werther” – từ phút 11:10 -, của Johann Wolfgang Goethe

SỐNG CHUNG VỚI CORONA – PODCAST VIỆT-ĐỨC TỪ BERLIN
KỲ 26, THỨ SÁU 03.12.2021

“Doch jene Wolke blühte nur Minuten…”

🇩🇪 Aus der Lesung und Diskussion mit Quang Chiến in der Redaktion der deutsch-vietnamesischen Kulturzeitschrift “Đối Thoại”, Berlin den 19.08.1992

Teil I mit der Lesung der Nachdichtungen der Gedichte von Johannes R. Becher („In tiefster Nähe”), Bertolt Brecht (“Erinnerung an die Marie A.”), Heinrich Heine (“Ein Weib”, “Weil ich dich liebe”, “Wie schändlich du gehandelt“, “Die Jahre kommen und gehen”) und der zwei Auszüge aus dem Roman “Die Leiden des jungen Werther” von Johann Wolfgang Goethe

LEBEN MIT CORONA – DEUTSCH-VIETNAMESISCHER PODCAST AUS BERLIN
FOLGE 26, FREITAG 03.12.2021

Jürgen Habermas nói về Ludwig Wittgenstein, Martin Heidegger và Theodor W. Adorno

Thuyết trình tại seminar trực tuyến „Logicism“, Düsseldorf, Chủ nhật 31.10.2021
Vortrag im Rahmen der Online-Seminarreihe „Logicism“, Düsseldorf, Sonntag 31.10.2021   

“Tôi nghĩ có thể tóm tắt quan điểm của mình về triết học bằng cách nói rằng: Các triết gia thực ra chỉ nên làm thơ.”
[“Ich glaube, meine Stellung zur Philosophie dadurch zusammengefaßt zu haben, indem ich sage: Philosophen dürften eigentlich nur dichten.”]
Ludwig Wittgenstein (1889-1951)

„Giải phóng ngôn ngữ khỏi ngữ pháp, đưa nó về một cấu trúc bản chất khởi thủy hơn, đó là sứ mệnh của tư duy và thơ ca.“ 
 [„Die Befreiung der Sprache aus der Grammatik in ein ursprünglicheres Wesensgefüge ist dem Denken und Dichten aufbehalten“.]
Martin Heidegger (1889-1976)

“Không thể sống thật trong đời giả“
[„Es gibt kein richtiges Leben im falschen.“]
Theodor W. Adorno (1903-1969)

„Những thương tổn do lí trí gây nên, có chăng, chỉ có thể do lí trí hàn gắn được mà thôi.”
[„Die Wunden, die die Vernunft schlägt, können, wenn überhaupt, nur durch die Vernunft überwunden werden.“|
Jürgen Habermas (*1929)

Ludwig Wittgenstein, Các khảo sát triết học (Lời nói đầu)

Những suy nghĩ mà tôi công bố sau đây là kết quả của các khảo sát triết học mà tôi đã theo đuổi trong 16 năm qua. Chúng liên quan đến nhiều chủ đề: Khái niệm về ý nghĩa, sự thông hiểu, câu, logic, nền tảng của toán học, các trạng thái ý thức và những vấn đề khác. Tôi viết ra tất cả những suy nghĩ này dưới dạng các ghi chú, những đoạn văn ngắn. Đôi khi với những chuỗi câu dài, về cùng một chủ đề, đôi khi chúng được chuyển mạch một cách chóng vánh từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác. — Ban đầu, ý định của tôi là tổng hợp tất cả những nội dung này trong một cuốn sách, dưới một hình thức mà tôi đã có các hình dung khác nhau vào những thời điểm khác nhau. Điều cốt yếu đối với tôi ở đây là các ý tưởng cần được lần lượt triển khai từ đối tượng này sang đối tượng khác, theo một trình tự tự nhiên và không bị gián đoạn. 

Sau một số thể nghiệm bất thành nhằm gắn kết các kết quả của mình thành một tổng thể như vậy, tôi nhận ra cách làm này sẽ không bao giờ thành công. Những gì tốt nhất mà tôi có thể viết ra sẽ luôn chỉ là những ghi chú triết học, các suy nghĩ của tôi sẽ nhanh chóng bị tê liệt một khi tôi tìm cách gò ép chúng theo một hướng, ngược lại với khuynh hướng tự nhiên của chúng. — Và điều này, tất nhiên, liên quan đến bản chất của việc khảo sát. Nó bắt buộc chúng ta phải bao quát một lĩnh vực tư tưởng rộng lớn, với những liên hệ đan chéo nhau và xuyên suốt mọi hướng. — Các ghi chú triết học trong cuốn sách này, có thể nói, là một tập hợp của nhiều kí họa phong cảnh, nảy sinh trên những chặng hành trình dài và đầy quanh co. 

Các điểm giống nhau, hoặc gần giống nhau, thường xuyên được tiếp cận từ nhiều hướng, những bản vẽ mới liên tục được phác thảo. Rất nhiều trong số đó bị sai lệch, hoặc thiếu đặc trưng, với tất cả khiếm khuyết của một người vẽ non kém. Và sau khi chúng bị loại bỏ, những phác họa dang dở còn lại phải được sắp xếp, thường là phải được cắt xén, để có thể cung cấp cho người xem một bức tranh toàn cảnh. — Vì vậy, cuốn sách này thực sự chỉ là một quyển sổ album. 

Cho đến gần đây tôi đã thực sự từ bỏ ý định xuất bản tác phẩm của mình khi còn sống. Tuy nhiên, có lúc ý định này lại trỗi dậy, chủ yếu là vì tôi đã buộc nhận thấy rằng những kết quả mà tôi đã chia sẻ ở các bài giảng, bản thảo và các cuộc thảo luận thường bị hiểu sai, ít nhiều bị biến thành nông cạn hoặc bị xuyên tạc. Qua đó có một thứ xúc cảm phù phiếm trong tôi đã bị khơi dậy, và tôi đã phải nhọc lòng để có thể kìm hãm nó.

Tuy nhiên bốn năm trước tôi có dịp đọc lại cuốn sách đầu tay của mình (“Luận văn lô gích – triết học ”) và giải thích các ý tưởng của nó. Và lúc đó tôi bỗng nghĩ rằng nên công bố những suy nghĩ cũ và những suy nghĩ mới cùng nhau, rằng những ý tưởng mới chỉ có thể được soi rọi một cách thỏa đáng thông qua sự tương phản và dựa trên nền tảng của lối suy nghĩ trước đây của tôi. 

Kể từ khi bắt đầu trở lại với triết học cách đây 16 năm, tôi đã phải nhận ra những sai sót nghiêm trọng trong những gì tôi đã viết ở cuốn sách đầu tiên đó. Những ý kiến phê phán mà tôi nhận được từ Frank Ramsey trong vô số buổi trò chuyện vào hai năm cuối đời của ông về những điều này đã giúp tôi hiểu ra những sai sót của mình, ở một mức độ mà tôi không thể nào đánh giá hết -. Và vượt lên cả sự phê phán luôn mãnh liệt và vững chắc đó, tôi còn phải hàm ơn một thầy giáo tại trường đại học này, ông P. Sraffa, người từ nhiều năm đã liên tục chỉ trích các ý tưởng của tôi. Đây chính là động lực cho những ý tưởng quan trọng nhất của cuốn sách. 

Có nhiều hơn là một lý do khiến cho những gì mà tôi công bố ở đây sẽ có những điểm tương đồng với những điều mà các tác giả khác viết ngày nay. — Nếu những ghi chú của tôi không mang đủ dấu ấn của bản thân, tôi cũng sẽ không tiếp tục đòi hỏi coi đây là sở hữu của mình. 

Tôi trao lại cuốn sách cho công luận với chút lòng băn khoăn. Khả năng công trình khiêm tốn này trong thời kỳ đen tối hiện tại có thể soi sáng một vài bộ óc nào đó không phải là không có; nhưng, dĩ nhiên, nó cũng gần như bất khả.

Với công trình này, tôi không muốn giải thoát cho người khác khỏi những rắc rối của công việc tư duy. Mà là, trong chừng mực có thể được, kích thích họ có những suy nghĩ độc lập. 

Tôi thực lòng mong mỏi viết được một cuốn sách hay. Kết quả không được như ý; nhưng thời gian để tôi có thể tiếp tục hoàn thiện nó không còn nữa.

Cambridge, tháng Giêng 1945. 

Bản dịch tiếng Việt từ nguyên tác tiếng Đức của 
Trương Hồng Quang (02.09.2021)

Bản gốc tiếng Đức

LUDWIG WITTGENSTEIN, PHILOSOPHISCHE UNTERSUCHUNGEN
VORWORT (1945)

In dem Folgenden veröffentliche ich Gedanken, den Niederschlag philosophischer Untersuchungen, die mich in den letzten 16 Jahren beschäftigt haben. Sie betreffen viele Gegenstände: Den Begriff der Bedeutung, des Verstehens, des Satzes, der Logik, die Grundlagen der Mathematik, die Bewußtseinszustände und Anderes. Ich habe diese Gedanken alle als Bemerkungen, kurze Absätze, niedergeschrieben. Manchmal in längeren Ketten, über den gleichen Gegenstand, manchmal in raschem Wechsel von einem Gebiet zum andern überspringend. — Meine Absicht war es von Anfang, alles dies einmal in einem Buche zusammenzufassen, von dessen Form ich mir zu verschiedenen Zeiten verschiedene Vorstellungen machte. Wesentlich aber schien es mir, daß darin die Gedanken von einem Gegenstand zum andern in einer natürlichen und lückenlosen Folge fortschreiten sollten.

Nach manchen mißglückten Versuchen, meine Ergebnisse zu einem solchen Ganzen zusammenzuschweißen, sah ich ein, daß mir dies nie gelingen würde. Daß das Beste, was ich schreiben konnte, immer nur philosophische Bemerkungen bleiben würden; daß meine Gedanken bald erlahmten, wenn ich versuchte, sie, gegen ihre natürliche Neigung, in einerRichtung weiterzuzwingen. — Und dies hing freilich mit der Natur der Untersuchung selbst zusammen. Sie nämlich zwingt uns, ein weites Gedankengebiet, kreuz und quer, nach allen Richtungen hin zu durchreisen. — Die philosophischen Bemerkungen dieses Buches sind gleichsam eine Menge von Landschaftskizzen, die auf diesen langen und verwickelten Fahrten entstanden sind. 

Die gleichen Punkte, oder beinahe die gleichen, wurden stets von neuem von verschiedenen Richtungen her berührt und immer neue Bilder ent- worfen. Eine Unzahl dieser war verzeichnet, oder uncharakteristisch, mit allen Mängeln eines schwachen Zeichners behaftet. Und wenn man diese ausschied, blieb eine Anzahl halbwegser übrig, die nun so angeordnet, oftmals beschnitten, werden mußten, daß sie dem Betrachter ein Bild der Landschaft geben konnten. — So ist also dieses Buch eigentlich nur ein Album. 

Ich hatte bis vor Kurzem den Gedanken an eine Veröffentlichung meiner Arbeit bei meinen Lebzeiten eigentlich aufgegeben. Er wurde allerdings von Zeit zu Zeit rege gemacht, und zwar hauptsächlich dadurch, daß ich erfahren mußte, daß meine Ergebnisse, die ich in Vorlesungen, Skripten und Diskussionen weitergegeben hatte, vielfach mißverstanden, mehr oder weniger verwässert oder verstümmelt im Umlauf waren. Hierdurch wurde meine Eitelkeit aufgestachelt und ich hatte Mühe, sie zu beruhigen. 

Vor vier Jahren aber hatte ich Veranlassung, mein erstes Buch (die “Logisch-Philosophische Abhandlung”) wieder zu lesen und seine Gedanken zu erklären. Da schien es mir plötzlich, daß ich jene alten Gedanken und die neuen zusammen veröffentlichen sollte: daß diese nur durch den Gegensatz und auf dem Hintergrund meiner ältern Denkweise ihre rechte Beleuchtung erhalten könnten. 

Seit ich nämlich vor 16 Jahren mich wieder mit Philosophie zu beschäftigen anfing, mußte ich schwere Irrtümer in dem erkennen, was ich in jenem ersten Buche niedergelegt hatte. Diese Irrtümer einzusehen, hat mir — in einem Maße, das ich kaum selbst zu beurteilen vermag — die Kritik geholfen, die meine Ideen durch Frank Ramsey erfahren haben, — mit welchem ich sie während der zwei letzten Jahre seines Lebens in zahllosen Gesprächen erörtert habe. Mehr noch als dieser — stets kraftvollen und sichern — Kritik verdanke ich derjenigen, die ein Lehrer dieser Universität, Herr P. Sraffa durch viele Jahre unablässig an meinen Gedanken geübt hat. Diesem Ansporn verdanke ich die folgereichsten der Ideen dieser Schrift. 

Aus mehr als einem Grunde wird, was ich hier veröffentliche, sich mit dem berühren, was Andre heute schreiben. — Tragen meine Bemerkungen keinen Stempel an sich, der sie als die meinen kennzeichnet, so will ich sie auch weiter nicht als mein Eigentum beanspruchen. 

Ich übergebe sie mit zweifelhaften Gefühlen der Öffentlichkeit. Daß es dieser Arbeit in ihrer Dürftigkeit und der Finsternis dieser Zeit beschieden sein sollte, Licht in ein oder das andere Gehirn zu werfen, ist nicht unmöglich; aber freilich nicht wahrscheinlich. 

Ich möchte nicht mit meiner Schrift Andern das Denken ersparen. Sondern, wenn es möglich wäre, jemand zu eigenen Gedanken anregen.

Ich hätte gerne ein gutes Buch hervorgebracht. Es ist nicht so ausgefallen; aber die Zeit ist vorbei, in der es von mir verbessert werden könnte.

Cambridge, im Januar 1945. 

Isabelle Müller, To love mankind as it is

Gedanken zum Gespräch „To love the world as it is (II)“ mit dem deutsch-vietnamesischen Unternehmer Vu Minh Anh, Gründer und Geschäftsführer der Reisefirma „Terraverde Travel“, aus der Podcast-Reihe „Leben mit Corona – deutsch-vietnamesischer Podcast aus Berlin“, Folge 24, Sonntag 18.07.1959 

Die Autorin Isabelle Müller und der Gastgeber des Podcast bei der gemeinsamen
zweisprachigen Lesung aus dem Buch „Loan“ in Berlin am 28. Juli 2019
(Screenshot aus dem Video von Truong Tran Phuc)

Vorbemerkung: 

Isabelle Müller ist die Tochter einer vietnamesischen Mutter und eines französischen Vaters, der Soldat der französischen Kolonialarmee in Indochina war. Sie wurde 1964 in Tours (Frankreich) als Isabelle Gaucher geboren und wuchs dort in ärmlichen Verhältnissen auf. Seit 1985 arbeitete sie in Deutschland als Dolmetscherin und Übersetzerin für Deutsch-Französisch, Deutsch-Russisch und Deutsch-Englisch. In 2009 erschien ihre Biographie „Phönixtochter – Die Hoffnung war mein Weg“beim Verlag Krüger (S. Fischer). Mit ihrem nächstem Buch, der mütterlichen Biographie „Loan – Aus dem Leben eines Phönix“ nahm Isabelle Müller im Juli 2015 am von Amazon ausgerichteten Kindlestoryteller 2015 Wettbewerb teil und erreichte das Finale (5 Finalisten). Im März 2018 erschien die vietnamesische Fassung des Buchs „Loan – Aus dem Leben eines Phönix“ in Vietnam beim Verlag TRẺ Publishing House (3. Auflage 2019). Im Mai 2016 gründete die Autorin die LOAN Stiftung, die Bildungsprojekte zugunsten Kinder ethnischer Minderheiten in den ärmlichsten Bergregionen im Norden Vietnams realisiert. 

Die folgenden Gedanken teilte Isabelle Müller als Facebook-Kommentare zu der Podcast-Folge „To love the world as it is (II)“, die hier mit dem Einverständnis der Autorin als ein zusammenhängender Text veröffentlicht werden. Wir danken Frau Müller von ganzem Herzen für ihre engagierten und ausführlichen Stellungsnahmen und hoffen, diese sind auch für die Zuhörer:innen des Gespräches und Leser:innen dieses Textes genauso inspirierend, wie für die Macher des Podcast „Leben mit Corona – deutsch-vietnamesischer Podcast aus Berlin“ selbst.        

I.

Lieber Trương Hồng Quang,

nun melde ich mich wieder, wie versprochen, mit meinem ausführlicheren Kommentar (in 8 Teilen gepostet wegen der Länge) zu dieser Podcast Episode. Zuerst meinen tiefen Dank an Dich und Herrn Vu Minh Anh für den interessanten Austausch, der nicht nur wichtige gesellschaftliche und ethische Fragen aufwirft, sondern auch richtig zur Selbstreflexion anregt. An der Länge meines Beitrages werdet ihr merken, dass es viel zu sagen gibt. Daher auch meinen Dank für deine Einladung, meine Meinung als Eurasierin dazu zu äußern. Ich werde nicht auf alle Themen eingehen können, aufgrund ihrer großen Anzahl. Gerne bei einer anderen Gelegenheit.

Die geschickte Einführung der maßgeschneiderten Reisemöglichkeiten des Reiseunternehmens von Herrn Vu Minh Anh bringt uns erst sanft zu den Themen Kultur, Geschichte, Pandemie über Trauma Bewältigung bis hin zur Identitätssuche. Ein gut gewählter Gast, meine ich, um einen Einblick in die Gefühlswelt eines jungen, erfolgreichen „Viet-Deutschen“ (noch mit Bindestrich geschrieben) in Vietnam zu bekommen.

Der kontroverse Blick über die erwähnten Themen kam hauptsächlich hervor, weil ihr beide verschiedenen Generationen angehört. Als in Deutschland lebende Eurasierin französisch-vietnamesischer Herkunft, fand ich mich dennoch in euch beiden wieder. Einmal durch mein Alter (57 Jahre), so auch durch mein Dasein als Mensch vietnamesischer Abstammung im Ausland, bzw. in einer neuen Heimat. Eure Fragen habe ich mir im Laufe meines Lebens bestimmt mindestens schon einmal gestellt – bis auf die Pandemie bezogenen Fragen. Einige davon habe ich dennoch anders beantwortet, als ihr. Doch eins nach dem anderen.

Es sind wichtige Begriffe in die Diskussion gefallen: Polarisieren, Politik, Gesellschaft, solidarische Grundhaltung, Vertrauen, alte Tugenden, Konsens, verstörende Bilder, spontane Hilfsaktionen, Nord-Süd-Konflikt, mentale Trennung, Kommunikation, Diaspora, Widerspruch, Grenzgänger, Krieg, etc… Wahnsinn, finde ich, was u. a. eine Pandemie an Emotionen hervorrufen kann. Es bestätigt klar: Eine Krise offenbart oft das wahre Gesicht eines Menschen, bzw. einer Gesellschaft.

Auf die Frage, ob man die Erfolgsstory aus den Medien („Asien, bzw. Vietnam hat die Corona Lage besser im Griff“) revidieren sollte, da inzwischen Existenzen in Vietnam durch Lockdowns möglicherweise bedroht werden, wird so schnell keine Antwort zu finden sein. Es wird am Ende nicht nur Ansichtssache sein (da jeder auch frei ist, sich seine eigene Meinung zu bilden). Es wird von der jeweiligen Situation und dem jeweiligen Erfahrungsbericht jedes Einzelnen abhängen. Zudem verändert sich noch die Lage fast täglich. 

Eins steht fest: Gleich nach dem Ausbruch der Pandemie hat Vietnam große Disziplin und Stärke bewiesen (wie Herr Vu Minh Anh sagte, „weil asiatische Länder bereits Erfahrung mit Pandemien besitzen“). Es ist aber zu früh feststellen zu wollen, welche Strategie und Politik welche Früchte getragen hat oder nicht. Das wird sich erst später zeigen. Daher stimmt die Aussage von Herrn Vu Minh Anh insofern, dass sich Entscheidungen mit neuen Parametern verändern können, wozu ich ergänze: „und daraufhin vielleicht auch die Meinungen.“

In der Feststellung von Herrn Vu Minh Anh, dass das vietnamesische Volk resilient, zäh und gelassen sei – zu diesen Eigenschaften kommen meinerseits die Adjektive fleißig und kreativ – findet sich doch deutlich ein Stück vietnamesische Identität wieder, die für ihn im späteren Verlauf des Interviews anscheinend – ich zitiere – „keine Rolle mehr spielt“. Entweder ist diese Identität bei ihm ganz tief vergraben und kommt absichtlich nicht zum Vorschein oder er schafft es tatsächlich, sich derart abzunabeln, dass er meint, keine Identität zu haben.

II.

Im weiteren Verlauf des Interviews nimmt Herr Vu Minh Anh – offenbar so bewusst, wie er kann – sowohl die positiven, Mut machenden Erfolgsgeschichten als auch die schlechten Nachrichten (Zwangsprostitution, etc…) über Viet-Deutsche nicht persönlich. Prinzipiell denke ich, ist es grundsätzlich eine gesunde Einstellung, um seine eigene positive, geistige, gesunde Balance zu erhalten. Allerdings kann an dieser Stelle Entfremdung entstehen. Fühlt man sich von einem Thema nicht angesprochen, kann das hinzuführen, dass man wegschaut und wichtige, gesellschaftliche Themen ignoriert. Und gerade hier geht womöglich die Möglichkeit, einen Bezug zur Identität zu finden, verloren.

Wir Menschen entwickeln uns anhand der Informationen, die wir bekommen. Sie helfen uns, das Bild unserer vermeintlichen Realität zu verfeinern. Dann entscheiden wir, ob wir uns mit diesem Bild identifizieren oder nicht. Identitätssuche ist für mich wichtig. Sie bedeutet Zugehörigkeitssuche und ist ein Ruf nach Liebe. Der Mensch durstet danach. An diesem Punkt möchte ich betonen, dass ich überzeugt bin, dass jeder Mensch und jedes Wesen eine Identität besitzen – ob sie es wollen oder nicht -, um sich erst an anderen zu messen (ohne anmaßend zu sein) und um schließlich die eigene Existenz besser wahrzunehmen. Diese philosophische Ebene müsste hier etwas vertieft werden, indem man „Identität“ klarer definiert. Und selbst die Definition von Identität wird sich kontinuierlich entwickeln, da unsere Welt stets in Bewegung ist.

Die Erwähnung von „verstörenden Bildern“ während der Pandemie (Hamsterkäufe, Flucht vor Behörden, etc…) bestätigt meine o.g. Aussage, dass eine Krise (hier wird z.B. COVID mit einem Kriegszustand verglichen) das wahre Gesicht eines Menschen, bzw. einer Gesellschaft offenbart. Weiterhin rutscht man in dem Interview unwillkürlich in das Thema „alte Wunden“ – damit ist der vietnamesische Nord-Süd Konflikt gemeint. Die große Rolle und Wichtigkeit der Kommunikation zwischen den Generationen wird im Interview unterstrichen, was auch absolut richtig ist. Auf eine konstruktive, sachliche und vor allem ehrliche Kommunikation sollte der Mensch stets achten. Richtige Kommunikation sollte alle vorhandenen Ansichtspunkte der jeweiligen Menschen auch wahrnehmen, zulassen, und nicht nur einseitig sein. Der Wille zur Kommunikation sollte auch bewusst geweckt und gepflegt werden, und dies, auf einer ehrlichen Ebene, wenn möglich ohne persönliche Interessen, zum Wohle der Gesellschaft. Denn nur glückliche Einzelpersonen können auch eine glückliche Gesellschaft bilden. Theoretisch. Hier fallen mir Worte wie „verstehen“, „lernen“ oder „verzeihen“: Jeder Mensch weiß besser als jeder andere, was gut für einen ist. Egal, wie und wofür man sich entscheidet, das zu tun, setzt der Wille voraus und bedeutet Arbeit. Ziel wären u. a., dass die Geschichte sich nicht wiederholt, indem man aus der Geschichte erfährt, aus der Vergangenheit lernt und Fehler zu vermeiden.

Zudem wäre es wichtig zu lernen, die Aussagen eines Einzelnen zu hinterfragen und richtig zu interpretieren, um das vielleicht Unbewusste, Unterschwellige an die Oberfläche zu tragen. Auch das ist Arbeit. Das Reiseunternehmen von Herrn Vu Minh Anh bietet sicherlich gute Möglichkeiten an, sich mit tiefgründigen, geschichtlichen, kulturellen, gesellschaftlichen und schließlich menschlichen Themen auseinanderzusetzen.

Alte Wunden (z.B. Nord-Süd-Konflikt) können nur heilen, wenn man die Bereitschaft, den Willen dazu hat. Fakte sprechen für sich und werden es immer tun. Der Mensch ist jedoch lernfähig, trotz seiner Emotionalität. Wir sind äußerlich und innerlich nicht alle gleich (Narr ist, wer das behauptet). Nur Grundeigenschaften ähneln sich und jeder Mensch ist ein Unikat. Wir reagieren und denken anders. Doch sollten wir stets den gesamten Kontext eines Faktes erfragen, um unseren Blickwinkel dadurch zu erweitern und um besser zu verstehen. Sich ein eigenes Bild von etwas machen zu dürfen, ist eine große Freiheit und das sollte uns allen bewusst sein. Reisen durch Vietnam bieten genau das an, da sie eine bereits vorhandene Affinität zu diesem Land sicher verfeinern.

III.

Herr Vu Minh Anh wurde angesprochen auf die Hoffnung auf Beendung des Nord-Süd-Konfliktes. “Das Problem löst sich von selbst aufgrund der Demographie. Wir gehören zur Generation, die im Ausland aufwächst, die gleichzeitig eine Bindung zu Vietnam hat. Es ist ein anderes Denken. Für die Jüngeren ist diese Frage über Nord und Süd völlig fremd.“ Die Wahrheit, würde ich sagen, liegt in der Mitte. 

Einerseits stimmt es (dass es ein anderes Denken ist): Nicht jeder Jugendliche vietnamesischer Abstammung möchte sich mit einer teilweise schmerzhaften Vergangenheit beschäftigen. Die Welt um sie ist doch so friedlich und schön, wozu denn? Die Frage, warum es friedlich und schön um sie ist, mag sich mancher leider nicht oft gestellt haben. Die Antwort würde lauten: Weil ihre Eltern und Großeltern sich dafür geopfert haben. 

Andererseits ist diese Frage bei vielen dieser jungen Menschen sehr präsent, Gott sei Dank. Auch wenn sie es nicht offen zum Ausdruck bringen, bedeutet es lange nicht, dass sie das Thema ignorieren. Sie behalten es einfach lieber für sich. Gerade diese junge Generation durstet nach Aufklärung, um die Denk- und Verhaltensweise der Älteren besser zu begreifen. Ich habe das festgestellt, als die Biographie über meine geliebte Mutter „Loan – Aus dem Leben eines Phönix“ in Deutschland und später in Vietnam erschienen ist. Das Buch wurde begeistert empfangen, weil es einige Antworten gab, auch einen anderen Blickwinkel auf bestimmte Dinge. Es schließt sozusagen eine Lücke in der Geschichte Vietnams und bringt mehr Verständnis, mehr Menschlichkeit in den Familien und in der Gesellschaft. Zeitzeugen gibt es wenige und heutzutage besteht die Möglichkeit, z. B. durch Reisen mit ihnen in Berührung zu kommen und sich auszutauschen – sei es persönlich oder über ein Buch. 

Diese Kinder der 2. Generation stellen Fragen und ihre Fragen werden beantwortet, was gut ist. Ihr Interesse an der Landesgeschichte ist also durchaus vorhanden, kann aber nicht bei dem anderen Teil dieser Generation erzwungen werden – höchstens angeregt. 

Und egal ob die jüngere Generation sich für die Geschichte ihres Herkunftslandes interessiert oder nicht: Unvermeidlich wird das Thema irgendwann zur Geschichte gehören. Eine Buchseite wird umgeblättert, um Raum für eine neue Geschichte zu schaffen. Wie die neue Geschichte allerdings aussehen wird, wird stark davon abhängen, wie die Vergangenheit ausgesehen hat. Vergangenheit gehört für mich deshalb absolut zur Kultur, daher bleibt es empfehlenswert, die Kultur und altes Wissen zu pflegen und weiterzugeben an die, die hören wollen und dafür offen sind.

Für mich ist es also wichtig, die Geschichte (m)einer Länder immer besser kennenzulernen, (welch ein Glück ich habe, denn ich habe mehrere Heimatländer!) daraus zu lernen, um die nächste Generation (meine Kinder z. B. oder meine Freunde) auch darüber zu informieren, aber nur wenn sie es wünschen. Erziehung vermittelt Kultur und Werte. So erfährt man auch von Tugenden wie Güte, Anstand und Empathie. Man sollte aber gleichermaßen über Laster sprechen und aufklären, wo diese z. B. im Leben zu finden sind (ohne zu predigen). Als Elternteil sollte man in der Lage sein, über seinen eigenen Schatten zu springen und das Kind selbst entscheiden lassen, in welche Richtung es gehen möchte. Eltern sind mit der Erziehung nur Wegweiser. Die Richtung sollen die Kinder selbst wählen und den Weg selbst gehen.

Ich persönlich habe begriffen, dass Konflikte und Kriege zuerst im Kopf entstanden sind, meistens aus Machtgier. Daher sollte unbedingt Frieden in unseren Köpfen entstehen, damit Frieden auch zur globalen Realität wird. Diese Vision für unsere nachhaltige Zukunft sollten alle Generationen mit vereinten Kräften hervorrufen.

IV.

Die o.g. Punkte (sehr untypisches, vietnamesisches Verhalten in der Krise / Erinnerung an den alten Nord-Süd-Konflikt) zeigen unterschwellig die bestehende Angst vor dem Verlust der alten, vietnamesischen Tugenden. Hier möchte ich kurz einwenden, dass viele der gemeinten Tugenden nicht nur in Vietnam zu finden sind/waren, sondern in allen Ländern dieser Welt. Tugenden dieser Art – die zur Lebenseinstellung oder Lebensphilosophie werden sollten (jeder kann natürlich für sich entscheiden) – finden sich zwar in manchen Ländern mehr als in andere, doch sind sie irdisch und keineswegs landesspezifisch. Insofern ist diese Angst sicherlich nicht nur vietnamesisch, sondern global: Wo gehen unsere edlen Werte hin und sind sie noch zu retten, und wenn ja, wie? 

Die Frage an Herrn Vu Minh Anh „Kann man sich als Rückkehrer noch gut wieder im Ursprungsland integrieren?“ wurde teilweise beantwortet. Ich persönlich finde es möglich, wenn der Wille dazu stark genug ist und wenn man im Ursprungsland mindestens genauso glücklich ist, wie im „Gastland“. Es kommt auf die persönlichen Ziele an: Ist man noch jung genug und meint, man hat genug „anderes Wissen“ bekommen und möchte es im Ursprungsland mit seinen Mitmenschen teilen, damit die Gesellschaft davon profitiert, dürfte es funktionieren. Ist man älter – nachdem man Jahrzehnte im „Gastland“ / ich bezeichne es lieber als „zweite Heimat“ – verbracht hat, sehe ich es als sehr schwierig, sich wieder zu integrieren und sich dabei wohl zu fühlen. Ein Mensch filtriert bewusst oder unbewusst immer „das Beste“ aus dem Leben heraus, um glücklich zu sein (Glück ist schließlich das Ziel jeder Person auf Erden; ich hatte damals als junge Studentin eine Arbeit über „Glück“ verfasst, erinnere ich mich). Wenn Rückkehr im Ursprungsland, dann nur mit einer großen Sammlung an neu erworbenen Eigenschaften aus der 2. Heimat im Gepäck. Am Ende kann diese „Mischkombination aus verschiedenen Kulturen“ gut bestehen.

An dieser Stelle eine quere Frage von mir: Mit welchen Absichten tut man das wirklich (sich wieder im Ursprungsland wieder integrieren)? Aus reinem Pragmatismus oder aus Nächstenliebe? (wohl ein anderes Thema).

Natürlich ist es von Vorteil, neu erworbene Kenntnisse und Verbesserungen (soweit es welche sind) einzuführen, um die Lebensqualität seiner Mitmenschen im Heimatland zu verbessern (Förderung der Wirtschaft, etc…). Ich hätte dabei gerne unterstrichen, wie wichtig Ethik dabei ist, um eine nachhaltige, positive Entwicklung des Heimatlandes zu erzielen – dies, mit immer großem Respekt zur vorhandenen Kultur. Diese sollte stets wie eine kostbare Perle beschützt werden. Denn die Zerstörung einer Kultur involviert einen Untergang. Wesentlich ist nicht der Untergang selbst, sondern die Frage, ob bei diesem Untergang die WERTE, die hoffentlich vermittelt wurden, dabei verschwunden sind oder ob sie weiterhin bestehen. Dass Kulturen Höhepunkte und Niedergänge haben, ist und bleibt ein Fakt. Es wird durch die Geschichte belegt. Früher oder später, sobald ein Land satt und fett wird, kommt der Untergang. Die Frage ist nur, bei sich schnell entwickelnden Ländern, wie schnell sie satt und fett werden und ob gute Werte (alte Tugenden) sie vor diesem Niedergang retten können. Auch ein interessantes Thema.

V.

Die Aussage von Herrn Vu Minh Anh, Vietnam sei ein offenes Land, das Chancen für alle bietet, ist richtig. Hier möchte ich betonen, dass alle möglichen Aspekte einer Entwicklung beleuchtet werden sollten, bevor man ein Land gänzlich öffnet. Kreativität ist wunderbar (das zeigen die Vietnamesen zum Beispiel mit der großen Anzahl ihrer Startups im Land), aber die “Maschinerie” in Gang zu halten, könnte unwillkürlich weitere Probleme bringen, denen die junge Generation vor Ort nicht unbedingt gewachsen ist. Die jetzige, „wissenshungrige“, vietnamesische Generation hat ein Großteil von Entwicklungen nicht selbst erlebt und steht nur vor den Ergebnissen dieser Entwicklungen. Ein Beispiel: Ein Kind aus dem abgelegenen, hohen Norden Vietnams hat ein Handy, ist vernetzt und sieht Inhalte “einer anderen Welt”, die ihn „verzaubert“, ihm besser zu sein erscheint, als die seine. Er will dorthin und so sein, wie die Person, die ihm gezeigt wird, und das am besten jetzt. Teilweise auf Kosten der Nachhaltigkeit. Ein gefährliches Vorhaben durch ein verzerrtes Bild der Realität. Diese Kinder sind deshalb schon zum Scheitern verurteilt. Auch ein anderes Thema, das weiter ergründet werden könnte.

All diese o.g. Punkte sind dennoch meines Erachtens nur Randerscheinungen eines viel wichtigeren Themas: BILDUNG, verbunden mit weiteren Themen wie Kommunikation und Aufklärung. Kann die Jugend in der Entwicklungsphase eines Landes mitgenommen werden? Kann die (nicht nur vietnamesische) Jugend mit dem sehr schnellen Fortschritt mithalten? Dreht sich die Welt zu schnell? Entgleist uns die Jugend? Dieser Gedanke impliziert auch die Rolle der Medien und der Information, die selbst auch Desinformation oder Konditionierung sein kann (indem der „Eine Richtung Blick“ gepflegt wird). Selbst Geschichtsbücher, die von Menschen verfasst wurden, können Fehler enthalten, Bilder verzerren und in die Irre führen. Deshalb sollte man möglichst viele Blickwinkel und den Kontext einer Sache betrachten und versuchen, sich ein eigenes Bild zu machen. 

Durch einen wirklich gesunden Menschenverstand, sollte es zudem zu schaffen sein, eine gesunde Welt zu erschaffen. Idealismus von mir? Mag sein.

Ein deutscher Kirchenmann sagte mir einst: „Ich armes Schaf, bräuchte dringend geistige Nahrung“, bloß weil ich ihm meinen Grundsatz im Leben erklärte: Das Gute vom Bösen zu unterscheiden. Bemüht man sich, dies im Leben zu tun, erreicht man (in der Regel) diesen gesunden Menschenverstand. Vertrauen müsste entsprechend vorgelebt und könnte teilweise gewonnen werden, indem man den Geist fördert. Misstrauen ist dabei durchaus legitim (aus den vergangenen Erfahrungen heraus), doch ein Ziel sollte sein, die richtige, gesunde Balance zu finden.

Im Interview hast du, lieber Quang, erwähnt, dass du mit 17 Jahren nach Deutschland gekommen bist und deine Persönlichkeit quasi „fertig entwickelt“ war. Ich meine, dass nur die Basis deiner Persönlichkeit festgelegt war, da sich diese aufgrund der Erfahrungen, des Austauschs, der menschlichen Neugier stetig entwickelt hat (und noch tut). Du siehst es als Problem, dass die 2. Generation sich nicht vietnamesisch fühlt und sich entsprechend verhält (waschechte Vietnamesen sind immer sehr nostalgisch…:)) Herr Vu Minh Anh fügt sogar hinzu, dass diese neue Generation „die neue, deutsche Generation“ sei. 

Ich hätte hier, aufgrund meiner eigenen Herkunft, eine Anregung. Warum sollte man aus diesem Fakt (dass sich die neue Generation nicht vietnamesisch fühlt) ein Problem machen? Dies führt u. a. zur tiefen Zerrissenheit der Generation Nr. 1 und gibt zudem der Generation Nr. 2 ein schlechtes Gewissen und das Gefühl, den Erwartungen nicht gerecht zu werden. Heißt es nicht: „Erwarte nichts, so wirst du nicht enttäuscht“? Man kann nicht erwarten, nachdem man eine Pflanze umgesetzt hat, dass sie genauso wird wie im mütterlichen Boden. Das Klima, die Eigenschaften, das Umfeld beeinflussen die Entwicklung der Pflanze. Der Dünger (die Vermittlung der Werte) wird helfen mögen, doch das Ergebnis wird eigen sein – denn jeder Mensch ist eigen.

VI.

Ich glaube, dass die vorhandene Sorge (dass die 2. Generation sich nicht vietnamesisch fühlt) durchaus berechtigt ist, aber sie sollte nicht speziell auf Vietnam (oder ein anderes Herkunftsland) bezogen sein. Die wahre Sorge sehe ich mehr bei den Eltern: Sie haben Leid erfahren und mussten sich, ob sie es wollten oder nicht, mit der schmerzhaften Geschichte Vietnams auseinandersetzen. Sie wurden mit den Auswirkungen von furchtbaren Kriegen konfrontiert und sehnten sich nach einer besseren Zukunft. Später haben sie Kinder bekommen und versucht, dieser 2. Generation einen Bezug (nicht nur durch die Hautfarbe oder durch ein anderes Aussehen) zu ihren Erfahrungen zu geben. Indem sie das getan haben und immer wieder tun (das Problem ist ja immer noch da), reflektieren/reproduzieren sie ihre Ängste, ihre vergangenen Erfahrungen und ganzen Hoffnungen auf die Kinder. 

Durch Erzählungen über das Herkunftsland kann man einen Bezug zum Herkunftsland zwar schaffen, doch wird es ein anderer sein. Es muss auch ein anderer sein, denn diese Kinder können das Ausmaß der Erfahrungen nicht so wie sie fühlen. Sie können es nur spüren. Und unbewusst möchten sie das Leid ihrer Eltern nicht wiederholen, indem sie dieses im Geist wieder erleben. Die elterlichen Erfahrungen fühlen sich wie eine Last an und – logischerweise – denken sie, auch als Schutzmechanismus: „Warum soll ich mich belasten, wenn es mir hier doch gut geht?“

Haben die Eltern es geschafft, durch ihre Erzählungen die Neugier ihrer Kinder zu wecken, ist es die halbe Miete. Denn nicht jedes Kind wird sich dafür interessieren. Ich z. B. habe vier Geschwister und bin das einzige Kind, das sich wirklich tiefgründig mit dem Thema meiner Herkunft beschäftigt hat. Obwohl die Erziehung und das Umfeld dieselben waren.

Wenn diese 2. Generation sich nicht vietnamesisch fühlt, impliziert es womöglich, dass die Zugehörigkeit, bzw. die oben angesprochene Identität nur ein Gefühl ist. Weiterhin sollte man sich fragen: Definiert sich die Verbundenheit zu einem Land (Heimatliebe) unbedingt durch die Blutlinie? Das glaube ich nicht: Viele „Fremde“ ohne vietnamesische Blutlinie lieben Vietnam aus tiefstem Herzen und betrachten dieses Land sogar als ihre wahre Heimat.

Es ist weiterhin ein gutes Zeichen, dass sich die 2. Generation (im Ausland geborene Vietnamesen oder Menschen vietnamesischer Abstammung) im neuen Heimatland derart gut angepasst und integriert hat. War das innerlich nicht der Traum ihrer Eltern? Eltern wollen in der Regel immer, dass es ihren Kindern besser ergeht als ihnen damals. Aus Liebe möchten sie ihnen den schweren Weg der Entbehrung, das Leid ersparen. Dieser Weg beinhaltet aber leider das Risiko der Entfremdung zu den Wurzeln. Und hier gibt es, meine ich, nur einen Weg: Multikulturelle Bildung und breite Aufklärung im Elternhaus, in der Hoffnung, dass die Liebe der Kinder zur Heimat früh oder später doch erweckt wird – aber nur vorausgesetzt, dass dem Kind genug Freiraum gelassen wird, um den eigenen Menschenverstand zu entwickeln und selbst zu entscheiden, ob es die Heimatliebe entwickeln will oder nicht. 

Liebe kann nicht erzwungen werden, auch nicht Heimatliebe. Am Ende wird sich ein Kind dafür interessieren und das andere nicht.

Die Liebe zu meiner (Teil)Heimat Vietnam ist aufgrund meiner erlebten Gefühle und der dabei entwickelten Empathie gewachsen. Ich durfte immer selbst mein eigenes Bild entwickeln. Vielleicht war das die subtilere Art und Weise meiner vietnamesischen Mutter Loan, mich an diesem Punkt zu bringen. Sie hat mich niemals gezwungen, Vietnam zu lieben. Stattdessen hat sie mir vietnamesische Musik vorgespielt, hat gesungen und mir die Texte übersetzt. Sie hat vietnamesisch gekocht und so einen starken Bezug zu Vietnam geschaffen. Ich habe mich aber selbst dafür interessiert und das ist hier ein wesentlicher, enormer Unterschied.

VII.

Wie du aus ihrer Biographie erfahren hast, bestand schon bei ihr das Problem der Zugehörigkeit: Sie gehörte (angeblich) nicht mehr Vietnam an, weil sie das Land verlassen hatte (den wahren Kontext zu kennen, ist deshalb wichtig). Und sie war in Frankreich nicht willkommen (die Geschichte von u. a. Dien Bien Phu spricht für sich). Sie gehörte also plötzlich keinem Land mehr, war heimatlos (ein schrecklicher Gedanke), obwohl sie ihre Heimat Vietnam immer zutiefst weiterhin liebte und sich parallel dazu in Frankreich integrieren wollte. Im Herzen war der Ruf nach Zugehörigkeit, nach Liebe groß. Bedingt durch das ablehnende Verhalten (nicht Akzeptanz) meines Umfeldes, habe ich schnell als Kind gelernt, mich fremd zu fühlen, trotz meines innerlichen Wunsches, doch zu beiden Ländern gehören zu wollen. Meine Mutter hat damals gute Lösungen zu den Dilemmas gefunden:

1) Bildung war ein Schlüssel, um sich erst Respekt zu verschaffen. Wer respektiert wird, wird auch wahrgenommen und kommt besser durch Widrigkeiten durch. 

2) Genauso wie eine Heimat, sollte man die Erde (als Planet) betrachten. Deshalb sind wir keineswegs heimatlos, weil wir Menschen auf Erden sind. Irgendwie tröstlich. Diese Aussage beantwortet die im Interview aufgekommene Frage der Gleichberechtigung. Die Gleichberechtigung sollte nicht nur für Mensch, sondern für alle Lebewesen sein, aus Respekt für das, was Leben bedeutet.

Weiterhin entwickelt sich Heimatliebe von den im Ausland geborenen Menschen vietnamesischer Herkunft durch die Art, wie sie im angesprochenen Land empfangen und wahrgenommen werden. Noch einmal möchte ich die Wichtigkeit der Entwicklung des gesunden Menschenverstandes unterstreichen.

Hier Beispiele: Frankreich ist das Land, in dem ich geboren wurde und ich aufgewachsen bin. Es ist aufgrund vieler Verhaltensweisen ein nationalistisches Land. Mir wurde damals als Kind eingetrichtert (teilweise von meiner französischen Familie und von einigen Lehrern sogar), wie schlimm der 1. und der 2. Weltkrieg waren (ich widerspreche nicht) und wie fast noch schlimmer es sei, sich mit den furchtbaren Germanen (die Deutschen) vermischen zu wollen = einem Landesverrat gleich. Hätte ich darauf gehört, ohne meinen Verstand einzusetzen und selbst Rückschlüsse zu ziehen, hätte ich niemals die deutsche Sprache gelernt (Sprachen sind übrigens auch sehr wichtig, um sich zu integrieren und die Welt zu verstehen = Thema Kommunikation). Deutschland hat mir schließlich bessere Zukunftschancen gegeben, als in Frankreich. Inzwischen besitze ich auch die deutsche Staatsbürgerschaft. Ich habe einen deutschen Mann, zwei Deutsch-französische Kinder. Deutschland ist also zu meiner zweiten, geliebten Heimat geworden. Und trotzdem liebe ich Frankreich und respektiere es als mein Ursprungsland, das mir auch zu einer gewissen Zeit eine glückliche Zeit beschert und in der Not geholfen hat (ich bekam ein hohes, staatliches Stipendium, um in Frankreich zu studieren).

Zweites Beispiel: Auf der Suche nach meinen vietnamesischen Wurzeln (nach eigenem Bekunden meines Interesses dafür), besuchte ich 1990 das Land meiner Wurzeln – auch mit dem innerlichen Wunsch, dazu zu gehören und angenommen zu werden. Mein Aussehen ist alles andere als Vietnamesisch, doch mein Herz schlägt in mancher Hinsicht vielleicht sogar stärker als manches vietnamesisches Herz. Ich wurde zum größten Teil sehr liebevoll empfangen, als ein Kind zweier Welten, zweier Kulturen. Dieses Gefühl, „zu Hause angekommen zu sein“ war überwältigend und gab mir ein Stück meiner Selbst zurück. So sehr, dass ich Vietnam ebenso als mein weiteres, geliebtes Heimatland betrachte. Herr Vu Minh Anh sagte im Interview auch: “Die Welt ist bunt“. Das stimmt. Man darf mehrere Heimatländer haben. Man liebt sie nur auf unterschiedliche Weise.

Stelle ich mir die Fragen: Bin ich mehr Deutsch als Französin? Bin ich mehr Vietnamesin als alles andere? Sollte ich mir überhaupt diese Fragen stellen, um glücklich zu sein? Nein. Ich habe beschlossen, aus jedem Land, das mir Willkommen heißt, voller Dankbarkeit ein Heimatland zu machen. Ich mache daraus einen Vorteil, anstatt ein Hindernis.

VIII.

In beiden Fällen lasse ich bewusst keinen Raum für Zerrissenheit (begrenztes Denken ruft Zerrissenheit hervor). Beides ist gut und ist multiplizierbar auf allen Ländern dieser Welt. Man sollte Identität deshalb nicht be/einschränken indem man sagt: „Mein Kind sollte sich mehr vietnamesisch fühlen und sich entsprechend verhalten“. Stattdessen sollte man den menschlichen, universellen Aspekt hervorheben und sagen: „Mein Kind ist ein Kind zweier Kulturen. Das ist gut so und eine Bereicherung unserer Gesellschaft. Mein Kind ist am Ende ein Mensch.“ Man kann keine Farben vermischen und erwarten, dass das erzeugte Ergebnis eine einzige Farbe enthält. Man kann keine Pflanze einpflanzen in der Erwartung, dass sie nur eine Art Wasser trinkt und bestimmte Sonnenstrahlen annimmt, denn sie wird sich sowieso das nehmen was sie braucht, um zu überleben und sich zu entfalten – aufgrund des Bodens und der Nahrung, die sie bekommt und annimmt oder nicht.

Identität, Zugehörigkeit und Heimatliebe kommen durch natürliche Veranlagung, Wissen und Kultur. Kultur kommt durch Bildung. Sie bilden einen Kreis und der Mensch entscheidet, ob es ein Engelskreis oder ein Teufelskreis wird. Ein Garten bleibt brach oder wird kultiviert. Das liegt an jedem Einzelnen und der Prozess beginnt im Elternhaus. Der Wille und das zu entwickelnde Potential der einzelnen Person, sowie die wirtschaftlichen, gesellschaftlichen, geographischen und politischen Faktoren werden die Richtung beeinflussen – doch das ist wohl ein anderes Thema.

Wir sind äußerlich und innerlich nicht alle gleich. Wir sind einzelne Wesen in ihrer unendlichen, bereichernden Vielseitigkeit. Zu dieser Episode hätte der Titel “To love mankind as it is” gut gepasst. Nicht nur die Welt, sondern den Menschen zu lieben, wie er ist, ist meines Erachtens der Schlüssel zur Gelassenheit.

Wie du siehst, lieber Quang, sind dein Podcast und Eure beiden Meinungen sehr inspirierend. Das sind die zusammengefassten, spontanen Gedanken meiner kleinen Person beim Zuhören. Gewiss sind sie nicht völlig ausgereift und bedürfen an mancher Stelle Verbesserungen. Doch sie unterstreichen, hoffe ich, die Wichtigkeit von Dialog und Wertevermittlung, um einen nachhaltigen Weg in Richtung positiver Zukunft gemeinsam zu bauen. 

Hier noch einmal das Zitat meiner geliebten Mutter Loan:

„Was hat mich getrieben? Hoffnung! Hoffnung für die Vertriebenen, für die Verlassenen, für die Einsamen und für die, die an den Himmel glauben. Hoffnung, meinen Kindern etwas auf den Weg mitgegeben zu haben; das zu erreichen, was ich nicht geschafft habe! Wenn meine Kinder es nicht schaffen, wer dann?“

Wir „eingedeutschte Menschen“ sollten deshalb den wichtigen, wertvollen Samen der alten, guten Tugenden weiterhin sähen, in der Hoffnung, sie fallen auf fruchtbarem Boden.

Quelle: Facebook, 30.07.2021

Chim băng

‎⁨Biosphärenreservat Spreewald⁩, ⁨Burg (Spreewald)⁩, ⁨Brandenburg⁩, ⁨Deutschland⁩ (Foto: THQ 2016)

(Chuyện nghề dịch)

Có một lần, từ lâu lắm rồi, cách đây dễ chừng đã hai mươi năm, tôi có dịp tháp tùng một đoàn chuyên gia môi trường Việt Nam đi tham quan Spreewald, một khu rừng bảo tồn thiên nhiên cách Berlin gần 100 km về hướng Đông Nam. Quản lý môi trường, bảo tồn thiên nhiên, và khoảng chục năm trở lại đây chủ đề thích ứng với biến đổi khí hậu là một trong những trụ cột của quan hệ hợp tác phát triển Đức Việt, với các cơ quan thực hiện khác nhau như DSE (Quỹ Phát triển Quốc tế Đức), GTZ (Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức), InWent và giờ đây là GIZ (Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức). Vào giai đoạn đầu tiên, từ giữa những năm chín mươi, những chuyến đi khảo sát hay tập huấn như vậy được tổ chức hết sức công phu và đương nhiên cũng vô cùng tốn kém. Phần lớn các chương trình kéo dài hai tuần, thậm chí có lúc đến ba tuần, với những chủ đề như „Đánh giá môi trường với sự tham gia của cộng đồng“ („Partizipative Umwelterhebungen“), với một team hội thảo không thể nào hùng hậu hơn, gồm một đến hai hướng dẫn viên, hai MC (một người Đức và một người Việt), ba trợ lý hội thảo (trong đó một bạn chỉ có việc duy nhất là chụp ảnh để làm tư liệu), hai và có lúc đến ba phiên dịch Đức Việt và Anh Việt. 

Lần mà tôi tháp tùng đoàn khảo sát đi thăm Spreewald chắc đã vào một giai đoạn về sau, với một nhóm người tham gia không lớn lắm, phân ra ngồi vừa đủ trên hai hay ba con thuyền gỗ, và người chèo thuyền cũng đồng thời là hướng dẫn viên. Dạo đó đã có sẵn chút lưng vốn kiến thức và thuật ngữ về lĩnh vực sinh thái, quản lý môi trường, nhưng thật tình tôi vô cùng e ngại khi mỗi lần được các anh chị trong đoàn hỏi về tên Việt các loài chim, cây, hoa v.v. thấy dọc đường đi. Cầu được ước thấy, trên chuyến thuyền gỗ lướt sóng trên những dòng suối trong khu rừng Spreewald ngày ấy, người hướng dẫn hầu như chỉ say sưa kể về sự đa dạng sinh học của quê hương anh. Đương nhiên là rất nhiều loài cá, chim chóc, hươu nai, cây cỏ v.v. được điểm danh và người phiên dịch là tôi lúc đó đã tập trung cao độ để khai thác triệt để vốn từ vựng sinh học khiêm tốn của bản thân. Nhưng đến lúc nghe người hướng dẫn kể trong khu rừng này có cả loài “Eisvogel” thì thông ngôn bị khựng lại mấy giây, và vì bí từ nên tiếp theo đó phải chuyển ngữ theo kiểu ghép từ nguyên “Chim Băng” (Eis-Vogel). Các anh chị trong đoàn Việt Nam im lặng không nói gì, vì thông ngôn cũng giải thích ngay đây chỉ là một cách dịch tạm. 

Một lát sau trước mũi thuyền bỗng nhiên có một chú chim màu sắc sặc sỡ bay vút lên. Người chèo thuyền kiêm hướng dẫn viên kêu to: Đấy, đấy, „EISVOGEL“ đấy! Cả đoàn Việt Nam lúc đó gần như đồng thanh, a, thì ra là … CHIM BÓI CÁ! 

Khỏi nói là thông ngôn được một phen ngượng chín người, không phải là lần đầu tiên và chắc chắn cũng không phải là lần cuối cùng. Về sau này, khi đã có dịp tra cứu, người ấy mới biết tên gọi „Eisvogel“ vốn có nguồn gốc trong tiếng Đức cổ là „isvogal“ („is“ có nghĩa là „Eis“ = băng/nước đá), vì loài chim này được cho là ấp trứng trong mùa đông. Chữ „isvogal“ về phần nó lại là một biến thể từ „isarnovogal“ = Eisenvogel (chim sắt), được gọi theo màu lông xanh của nó. 

Bất chấp tất cả các khía cạnh ngữ âm, từ nguyên, biểu tượng văn hóa đặc thù gắn liền với cái tên gọi „EISVOGEL“ này, cái tên gọi tương ứng „CHIM BĂNG“ trong tiếng Việt tất nhiên là một cấu trúc vô nghĩa, một giải pháp tình thế bất đắc dĩ. Và cái danh xưng „CHIM BÓI CÁ“ có từ bao đời trong tiếng Việt, được sử dụng một cách hiển nhiên và hồn nhiên trong môi trường bản ngữ, bất ngờ đồng thanh vang lên vào thời điểm đó đã trở thành một ký ức thật đặc biệt, và rồi cũng nhanh chóng bay mất hút, như chú chim xanh kỳ lạ trên bầu trời rừng Spreewald ngày nào.

(Đăng lần đầu trên FB, ngày 25.02.2021)

LIỆU CÓ MỘT CƠ QUAN GỌI LÀ “THƯỢNG VIỆN” VÀ CHỨC DANH “THƯỢNG NGHỊ SỸ” Ở BANG BERLIN (CHLB Đức)?

Trong những ngày này trên truyền thông Việt ngữ của cộng đồng người Việt ở Berlin các chữ “Thượng viện” để dịch khái niệm “Senat” và “Thượng nghị sỹ” để dịch khái niệm “Senator” hay “Senatorin” (mà nhân vật được nêu đích danh nhiều nhất là “Thượng nghị sỹ” Dilek Kalayci) xuất hiện với một tần suất dày đặc.

Thực ra chữ “Senat” trong tiếng Đức ít nhất có 5 lớp nghĩa, từ nghĩa gốc trong tiếng Latinh “senatus” (Viện nguyên lão) cho đến các nghĩa khá chuyên sâu như trong khái niệm “Strafsenat” (Tòa hình sự) hay khái niệm “Akademischer Senat” để chỉ một tổ chức đặc thù trong một trường đại học.

Senat = “Thượng viện” và Senator/Senatorin = “Thượng nghị sỹ” đúng là lớp nghĩa phổ biến nhất hiện tại (xem nghĩa 2. trong mục từ “Senat” kèm theo của Từ điển DUDEN), nhằm chỉ một trong hai hội đồng của chế độ lưỡng viện hay quốc hội theo kiểu lưỡng viện (Hạ viện và Thượng viện), mà ví dụ nổi tiếng nhất là Hoa Kỳ.

Khái niệm “Senat” và “Senator”/”Senatorin” khi được dùng để chỉ thiết chế hành pháp ở Berlin (và cả ở Hamburg và Bremen) và các chức danh ở hệ thống này không hề đồng nhất với lớp nghĩa 2. vừa dẫn ở trên. Từ điển DUDEN cũng giải thích rất mạch lạc lớp nghĩa 3 này: Senat = “Landesregierung der Stadtstaaten Hamburg, Bremen und Berlin” (Chính phủ Bang ở các nhà nước đô thị Hamburg, Bremen và Berlin).

Để dễ hiểu hơn và có thể phân biệt với lớp nghĩa 2., tôi đề nghị nên dùng chữ “Chính phủ” khi dịch khái niệm “Berliner Senat” (Chính phủ Bang Berlin) và chữ “Bộ trưởng” chẳng hạn khi dịch khái niệm “Senator für Gesundheit” (Bộ trưởng Y tế). Tương tự như vậy nên dịch “Senatsverwaltung” là “Bộ”. Còn chức danh “Der Regierende Bürgermeister von Berlin” dịch theo nghĩa đen thành “Thị trưởng cầm quyền của Berlin” thì cũng ổn, nhưng trong hệ thống nhà nước Liên bang ở Đức, Berlin (cũng như Hamburg và Bremen) không chỉ đơn thuần là một thành phố, mà cũng là một nhà nước Bang độc lập, có Nghị viện riêng, Hiến pháp riêng. Vậy ông Michael Müller cũng chính là Thủ hiến Bang, có vị trí như 15 Thủ hiến Bang (Ministerpräsidenten) còn lại.

Tôi tin chắc là bà Dilek Kalayci sẽ rất vui mừng khi cộng đồng Việt ngữ chúng ta hiểu đúng chức danh hành pháp của bà (Bộ trưởng Y tế, Điều dưỡng và Bình đẳng giới) mà không trao thêm cho bà một nhiệm vụ mới nữa là “Thượng nghị sỹ” ở một cơ quan Thượng viện rất xa xôi tận trên đồi Capitol ở Washington, D.C., vì chỉ riêng công việc phòng chống Covid-19 ở Thủ đô Đức đã hết sức nặng nề!

TB. Riêng cho chữ “Senat” như là một tổ chức trong trường đại học tôi đã có được một từ tương ứng cực chuẩn trong tiếng Việt, cũng là do học hỏi thêm trong những lần đi dịch cho các cơ quan Bộ Giáo dục giữa hai nước. Nhưng tôi sẽ chỉ bật mí từ này khi “Berliner Senat” không còn được/bị gọi là “Thượng viện Berlin” và bà Bộ trưởng đáng kính Dilek Kalayci không còn được/bị gọi là “Thượng nghị sỹ”.

Nguyễn Huy Thiệp, Salz des Dschungels

In memoriam des bedeutendsten vietnamesischen Schriftstellers der Gegenwart Nguyễn Huy Thiệp (1950-2021)

Der Monat nach dem Tet-Fest ist die beste Zeit im Dschungel. An den Bäumen platzen die Knospen. Der Wald bekommt einen lazurgrünen Schein und wird feucht. Die Natur ruht erhaben und satt vom Frühlingsregen.

Es ist einfach herrlich, in dieser Jahreszeit durch den Wald zu laufen, die Füße durch die verwelkten Blätter zu schieben, die reine, gefilterte Luft in die Lunge zu saugen, und ab und an am ganzen Körper zu erschauern, weil ein Wassertropfen von den Zweigen auf die nackten Schultern perlt. Alle Dummheiten und Schurkereien des Alltags sind wie vom Sprung eines  Eichhörnchens auf den Ast eines Maulbeerbaums abgeschüttelt.

Zu solch einer Zeit ging Herr Diểu zur Jagd.

Der Jagdsinn war in ihn erwacht, als sein Sohn, der im Ausland studierte, ihm eine Doppellaufflinte schenkte. Sie war einfach wunderbar, federleicht und wie ein Spielzeug in der Hand. Selbst im Traum vermag man sich so ein schönes Stück kaum vorzustellen. Im sechzigsten Lebensjahr, an einem Frühlingstag mit einer neuen Flinte in den Wald zur Jagd aufzubrechen, sollte es sich da nicht zu leben lohnen.

Herr Diểu gürtete sich, zog sich warm an, nahm die Pelzmütze und die hohen Schuhen. Vorsorglich packte  er eine Portion Klebreis ein. Er lief den ausgetrockneten Bach hinauf bis zur Quelle. Einen halben Kilometer weiter befand sich  das Reich der Kalksteinhöhlen und -grotten.

Herr Diểu bog sich in  einen sich dahinwindenden Pfad ein und lief weiter. Auf den Gắm-Bäumen an den   Wegrändern saßen  Spatzen die Menge, jedoch er schoß nicht nach ihnen. Mit so einer Flinte  auf  Spatzen  schießen,  war das Pulver nicht wert. Spatzen hatte er oft genug gegessen. Sie schmeckten zwar, aber rochen  übel. Und mangelte es ihm im Haus denn am Vogelvieh? Nein, er hatte Tauben genug. 

An einer Wegbiegung schreckte Herrn Diểu  ein Geräusch in einem Haselnusstrauch auf. Ein farbiges Knäuel entwirrte sich vor seinen Augen. Er hielt den Atem an: ein Paar Wildhühner sprang mit den Köpfen nickend hervor, es gackerte laut. Herr Diểu riß die Flinte hoch. Ich werde sie nicht treffen! besann  er sich und schaute ihnen eine Weile reglos nach. Er wartete, bis in den  Wald wieder Stille eingezogen war. Das Paar Wildhühner sollte meinen,  es hätte sich nur eingebildet, einem  Menschen begegnet zu sein. So war es gut für sie. Und auch gut für ihn.

Die felsigen Berge hoben sich hoch und majestätisch vor ihm. Herr Diểu betrachtete sie und prüfte seine Kräfte. Es wäre schön, wenn er einen Affen oder eine Antilope erlegen würde. Mit den Antilopen war es aber nicht so einfach, wußte Herr Dieu.  Nur wenn der Zufall zur Hilfe kam, konnte man sie zur Strecke bringen. Er rechnete sich keine Chance aus.

Nach einiger Überlegung entschloß sich Herr Diểu am Fuße des Kalksteinbergs entlang zu laufen, um im Maulberrwald Affen zu jagen. Das wäre aussichtsreicher und erforderte weniger Anstrengung. Dort lag der “Berg der Blumen und Früchte” und die “Grotte des reinen Wassers”[i]  dieses Tales. Im Maulbeerwald gab es ganze Horden von Affen. Es sollte ihm nicht schwerfallen, einen Affen zu erlegen.

Herr Diểu blieb vor einer Anhöhe, bewachsen mit rankenden Pflanzen, stehen. Er wußte nicht, was das für Pflanzen waren, sie hatten so silbrige Blätter  wie die Nhót-Pflanze, gelbe Blüten hingen wie Ohrringe zu Boden. Er setzte sich nieder und wartete still. Ob die Affen sich hier versammelten? Die Tiere sind so gerissen wie die Menschen, bei der Suche nach Nahrung halten sie Wachen aus. Ein wachender Affe ist sehr hellhörig. Übersah man ihn, hatte man die Jagd verspielt, konnte man den Leitaffen nicht schießen. Zwar war auch der Leitaffe ein Affe. Aber nur dieser Affe war seiner würdig. Er mußte Geduld haben und sich listig verhalten, wollte er ihn vor die Flinte bekommen. 

Herr Diểu verharrte beinahe eine halbe Stunde. Der Frühlingsregen ging anhaltend und fein nieder. Es war warm. Lange mußte es her, daß Herr Diểu so gesessen hatte, ohne zu grübeln, ohne Trauer und Freude und ohne Berechnung. Die  Stille des Waldes durchdrang ihn. 

Plötzlich krachte es im Maulbeerwald, als wütete ein Ungeheuer. Herr Diểu wußte, daß nun das Leittier nahte. Solches Tier verhält sich ungewöhnlich, es tritt mit königlichen Gebahren auf, seine Selbstgefälligkeit grenzt ans Brutale. Herr Diểu lachte innerlich und wartete angespannt.

Einige Minuten nach dem Krach erschien endlich der Leitaffe. Er eilte so schnell daher, daß seine Füße kaum den Boden berührten. Herr Diểu war gebannt von der Kraft und Schnelle. Im Nu entschwand er wieder. Ein Schmerz stach Herrn Diểu in die Seele: er war dem königlichen Anspruch nicht gewachsen. Das Hochgefühl, das ihn seit zu Hause erfüllt hatte, sank in sich zusammen.

Nachdem der Leitaffe verschwunden war, traf die Horde von etwa zwanzig Affen aus verschiedenen Richtungen ein. Der eine hangelte in der Krone, der andere schaukelte sich auf den unteren Ästen. Manche ließen sich auf den Boden herab. Herr Diểu sah drei, die sich beieinanderr hielten: Ein Männchen, ein Weibchen und ein Junges.

Der Gedanke, dieses Männchen zum Ziel zu wählen, bemächtigte sich seiner sofort. Dieser niederträchtige Alte! Ausschweifender Lüstling! Grober Patron! Schmutziger Gesetzgeber! Gemeiner Tyrann!

Herrn Diểu wurde heiß. Er legte Hut und Wattejacke unter ein Baumgestrüpp. Die Portion Reis daneben. Langsam zog er sich in eine Mulde zurück. Er spähte umher und erkannte, daß eine Äffin Wache hielt. Das war günstig. Denn das weibliche Geschlecht neigt zur Zerstreuung. Da, schau an! Was sollte das heißen, sich auf Wache lausen? Dem weiblichen Geschlecht ist der Körper das Nächste. Das ist zwar schlicht und schön. Aber auch voll Traurigkeit…  

Herr Diểu besann sich und schlich auf die wachende Äffin gegen den Wind zu. Erst im Abstand von zwanzig Metern zur Horde konnte man anlegen. Er kroch geschwind und geschickt. Er suchte sich seine Beute aus, so daß er sich des Erfolges bereits gewiß wähnte. Die Natur behielt ihm, und sonst niemand, diesen Affen vor. Er bildete sich ein, selbst wenn sein Körper ungeschickt Laute verurschte oder ihm ein anderes Mißgeschick unterlief, würde das nicht ins Gewicht fallen. Das war absurd, aber dennoch nicht ungewöhnlich.

Trotzdem er diesen Gedanken nachhing, vergaß Herr Diểu nicht, sich behutsam zu verhalten. Er wußte, die Natur verbarg stets Unvorhergesehenes. Vorsicht war nie fehl am Platze. 

Herr Diểu legte das Gewehr auf einen Ast an. Die Familie witterte keine Gefahr zu sein. Der Alte kletterte auf einen Baum, pflückte  Früchte und warf sie  dem Weibchen  und dem Jungen zu. Die besten Früchte behielt er jedoch zurück und fraß sie selbst. Wahrhaft niederträchtig war seine Eigensucht! Herr Diểu drückte ab. Der Schuß erscholl so gewaltig, daß die Affenhorde fast eine ganze eine Minute erstarrte. Die Hände des  Alten lösten sich und er fiel schwer zu Boden. 

Die Panik, die in der Horde ausbrach, ängstigte Diểu so, daß er zitterte. Er hatte Böses angerichtet. Ihm wurden Arme und Beine so weich, als hätte er eine schwere Arbeit verrichtet. Die Horde verschwand flugs im Wald. Die Affenmutter und ihr Junges liefen ihr nach. Plötzlich machte die Äffin kehrt. Der Alte war an der Schulter getroffen. Er versuchte, sich aufzurichten, fiel jedoch wieder hin. 

Die Äffin näherte sich ihm, ängstlich, sie sicherte nach allen Seiten. Die Stille war ihr unheimlich. Der Alte heulte nach ihr, ein klagender und schmerzerfüllter Ruf. Die Äffin blieb stehen, hörte mit Grauen und in Panik.

– Lauf weg!   

Herr Diểu stöhnte. Die Äffin wagte ihr Leben,  näherte sich dem Affen und hob ihn hoch. 

Herr Diểu riß empört das Gewehr hoch. Der Opferwille der Äffin erregte seinen Haß. Heuchlerin, willst deine philisterhaften Tugenden unter Beweis stellen! Aber gerade mit derartigen Szenen beginnt der Verfall der Sitten. Er ließ sich nicht täuschen.

Als Herr Diểu abdrücken wollte, wendete sich die Äffin ihm zu und schaute ihm ins Gesicht. Ihre Augen verrieten Entsetzen. Sie warf den Affen ab und floh. Herr Diểu atmete auf und lachte. Er erhob sich ganz aus dem Versteck. 

– Verdammt!

Herr Diểu fluchte leise. In dem Moment, in dem er vorging, machte die Äffin kehrt. Ich habe verloren, erkennt sie, daß ich ein Mensch bin! So war es, die Äffin ließ ihn nicht aus dem Auge und eilte zu dem Alten. Sie zog ihn schnell und sicher an den Bauch. Beide rollte sich auf die Erde davon. Beide rollten sich auf die Erde davon. Nun wird die Äffin verrückt spielen. Sie wird sich in ihrer Rage aufopfern, weil sie in ihrem Eifer vor der Natur gut dastünde. Und er wäre als Meucher entlarvt! Selbst im Sterben würde sie die Zähne freudig blechern. Wie dem auch seien, er hätte zu leiden, er könnte nicht schlafen und stürbe womöglich zwei Jahre eher, wenn er auf sie schösse. Und alles nur deshalb, weil er das Versteck zwei Minuten zu früh verlassen hatte.

–  Oh Diểu, es ist am Ende… – dachte er traurig  – Wie kannst du nur auf deinen Rheumabeinen mit der Treue und dem Opferwillen der Affen wetteifern wollen…

Als ob sie ihn neckten, liefen die beiden Affen, einander stützend, davon. Von Zeit zu Zeit schwenkte  die Äffin ihre O-Beine so wild, daß es sowohl komisch als auch obszön wirkte. Vor Ärger holte Herr Diểu tief Luft und stampfte mit dem Gewehr auf. Er wünschte, das Tier möge vor Schreck seine Beute fallenlassen.          

Da tauchte vom Steinhügel her das Affenjunge auf. Es ergriff den Trageriemen des Gewehrs und schleifte es davon. Alle drei Affen liefen und krochen nun, als seien sie rasend geworden. Herr Diểu stutzte einen Moment und brach ins Gelächter aus: so vertrackt war seine Lage.

Schreiend und Steine und Erdklumpen nach den Tieren werfend, lief Herr Diểu  hinterher. Die Affen waren außer sich, die Alten liefen in  Richtung Hang, das Affenjunge dem Abgrund entgegen.  Das wäre das letzte, käme das Gewehr weg! dachte Herr Diểu und folgte dem Jungen nach. Der Abstand wurde so gering, daß, wären da nicht die scharfkantigen Felsen gewesen, er mit einem Satz das Gewehr hätte ergreifen können. 

Daß Herr Diểu das Affenjunge bis zum Rand des Abgrunds hetzte, hatte eine unvorhergesehene Folge. Der Trageriemen Hängeschnur des Gewehres festhaltend, rollte er unbedacht in den Abgrund hinab. Ohne Erfahrungen in bedrohlichen Lagen wußte er sich keinen anderen Ausweg.

Herr Diểu wurde blaß und brach in Schweiß aus. Er stand am Rande des Abgrunds und erbebte beim Blick hinab. Von der grundlosen Tiefe hallte das schaurige Heulen des Affenjungen hinauf. In seiner Erinnerung fand Herr Diểu kein vergleichbares Geheul. Er trat entsetzt zurück. Vom Abgrund strömte  ein schauriger und mit dem Todesgeruch versetzter Dunst hinauf. Er drang in jedes Gestrüpp und verdeckte  schnell die Landschaft. Herr Diểu wich zurück. Es mußte schon  lange her sein, vielleicht seit seiner Kindheit, daß Herr Diểu so wie von Gespenstern verfolgt davonlief.   

Am Fuß des Felsen war Herr Diểu erschöpft. Er brach zusammen und blickte zurück in  Richtung des Abgrundes. Jetzt verdeckte ihn der Nebel bereits ganz. Ihm fiel plötzlich ein, daß er sich in jenem grauenerregendem Teil des Tales befand, das die Jäger den Todesschlund nannten. Alljährlich, beinahe regelmäßig, verloren in diesem Schlund Menschen ihr Leben, weil sie dem Nebel in die Falle gingen. 

Oder sind es Geister? – dachte Herr Diểu – Verwaiste Totenseelen alter Jungfern und Junggesellen verwandelten sich oft in die Gestalt weißer Affen? Dieser Affe war weiß. Und er raubte ihm das Gewehr auf so ungewöhnliche Weise, daß  daran zu zweifeln war, ob es mit rechten Dingen zugegangen war.

Ob ich nicht doch träume? – Herr Diểu schaute sich um –

Alles scheint wie im Traum. Er stand auf und blickte überrascht auf den Hang. Über den Felsen in entgegengesetzter Richtung zum Todesschlund war der Himmel klar und ohne jeglichen Nebelstreife, die ganze Landschaft lag nackt und bloß vor ihm.

Ein klagender Ruf wurde laut. Beim Aufschauen erblickte Herr Diểu das angeschossene Männchen, das auf einem Felsen ausgestreckt lag. Die Äffin war nicht zu sehen. Freudig  versuchte er hinaufzuklettern.

Der Felsen war steil und glatt. Sehr mühselig und gefährlich war es, da hinaufklettern zu wollen. Herr Diểu wogte seine Kräfte.  Und dennoch muß ich dich zur Strecke bringen! Herr Diểu tastete sich an den Felsvorsprüngen vor und klomm bedächtig hinauf.

Nach zehn Metern war sein ganze Körper erhitzt. Einen günstigen Stand ausnutzend, zog er sich Schuhe und Kleidung aus und hängte sie an den Ast eines Wildbeerbaums. Nur in Unterhose fühlte er sich leichter. Er kletterte behende weiter und wunderte  sich darüber, daß er noch so flink und zäh war.

Das angeschossene Männchen lag auf einem glatten und wackligen Felsen. Unter dem Felsen öffnete sich ein spannenweiter Riß, durch den er vom Hang getrennt war. Herr Diểu fuhr zusammen. Die Vorstellung, daß der Felsen jederzeit abstürzend konnte, erschreckte ihn. Die launige Natur wollte wohl seinen Mut neuerlich auf die Probe stellen. 

Herr Diểu stemmte sich auf den Ellenbogen nach oben zu. Der Affe war schön anzusehen, sein Fell glänzte fein und gelb. Er lag auf dem Bauch, seine Hände kratzten am Felsen, als wollte er sich davonmachen. Das Blut klebte rot an der einen Schulter. 

Herr Diểu betastete den Leib des Affen und fühlte, daß er  fiebrig warm war. Über zehn Kilo… Herr Diểu schob seine Hände unter die Brust, hob ihn wägend an. Aus der Brust entwich ein leises, bebendes “Hm”, als ob sich der Gott des Todes darüber empörte, daß sich jemand in sein Geschäft mischte. Herrn Diểu‘s Hände zuckten zurück. Der Affe bebte am ganzen Körper und blickte ihn mit stieren Augen betelnd an. Herrn Diểu überkam mit einem Male Mitleid. Der Schuß hatte das  Schulterblatt durchbrochen, etwa vier Zentimeter des Knochens ragten hervor. Wenn der Knochen berührt wurde, wälzte sich der Affe jammervoll herum.

– So kann es nicht bleiben! Herr Diểu pflückte ein Büschel laotischen Grases, preßte es zusammen und steckte es in den Mund, um es durchzukauen. Dann bedeckte er die Wunde des Affen damit. Das zerkaute Gras sollte das Blut gerinnen lassen. Den Affen zog es zusammen, er blickte ihn von der Seite her mit feuchten Augen an. Herr Diểu mied es, in sie hineinzuschauen. 

Nach einer Zeit kroch der Affe in die Arme Herrn Diểu‘s. Aus dem Maul waren die stammelnden Laute eines Kindes zu vernehmen. Herr Diểu verstand ihren flehentlichen Sinn. Ihm wurde übel.

Es wäre einfacher für mich, wenn du dich zur Wehr setzest –  Herr Diểu sah auf den braven Kopf des kleinen Affens und zog die Brauen zusammen – Ich bin alt geworden… Er weiß, daß alte Menschen leicht zu rühren sind. Womit soll ich dich nun verbinden, Affe?  

Herr Diểu dachte nach und zog schließlich seine Unterhose aus. Damit verband er die Wunde des Affens. Als das Blut gestillt war, hörte der Alte zu stöhnen auf. 

In solcher Nacktheit trug Herr Diểu den Affen auf dem Arm, stützte ihn und suchte den Weg zum Fuße des Berges. Auf einmal kamen Geröll und Steine am Hang ins Rollen, als wäre da eine Kraft, die alles zum Fallen brächte. 

Der Berg rutscht! 

Herrn Diểu fuhr es in die Glieder, er klammerte sich entsetzt an einen Felsen. Von dem Weg, den er gegangen war, blieb nur noch ein glatt abgehackter Rumpf übrig. Herr Diểu fand  den Wildbeerbaum nicht mehr, an dem er Hose und Schuh zurückgelassen hatte. Es war zu gefährlich, den Weg nochmals zu nehmen. Er mußte einen Umweg über den hinteren Berghang machen, der etwas weiter, aber sicherer war. 

Erst nach zwei Stunden Suche erreichte Herr Diểu den Fuß des Berges. In der Tat hatte er sich noch nie so abgemüht und erschöpft. Sein Leib war zerschunden. Der Affe war nicht tot noch lebendig. Wollte er ihn weiter schleifen, würde er entsetzlich zu leiden haben. Ihn zu tragen, reichten die Kräfte nicht mehr.

An dem Gestrüpp mit den rankenden Pflanzen, hinter dem er  sich am Morgen versteckt hatte, hielt Herr Diểu ein, um  nach  Hut, Hemd und der Klebreis zu suchen. Es erhob sich dort ein Ameisenhaufen so groß wie eine Strohschütte. Roter Erdschleim überzog den Haufen, auf ihm flatterten unzählige feuchte Ameisenflülgelchen. Verdammt, in einem Ameisenhaufen begraben,  verwandelten sich seine Habseligkeiten in Staub. Stöhnend drehte sich Herr Diểu um und nahm den Affen wieder auf den Arm. 

Es wäre schamlos, so nackig nach Hause zu kommen! – ärgerte sich Herr Diểu – ich würde nur zum Gelächter der Leute werden…

Er hing seinen Gedanken und verlief sich.  Erst nach einer ganzen Weile fand er den Weg wieder.

Das macht doch nichts! – lachte er plötzlich auf – Wer vermochte schon so einen Affen zu erlegen?  Er dürfte fünfzehn Kilo Fleisch bringen… Und so ein gelbes Fell, wie eingefärbt… So ein Tier zu schießen, da war schon verzeihlich, kein einziges Stück seiner Rüstung mehr zu besitzen! 

Ein leises Geräusch ließ sich hinter seinem Rücken vernehmen. Herr Diểu schrack zusammen, wandte sich um und erkannte die Äffin. Bei seinem Anblick verschwand sie wieder im Gestrüpp. Sie mußte sich ihm, ohne daß er es bemerkt hatte, schon am Berg an die Fersen geheftet haben. Er war irritiert. Nach einem weiteren Stück Wegs sah Herr Diểu beim Zurückblicken erneut die Äffin. Wie gemein! Herr Diểu legte das Männchen auf den Boden, ergriff Steine und Erdklumpen und warf nach der Äffin. Sie kreischte auf und lief davon. Aber kurzer Zeit darauf, als Herr Diểu sich umschaute, war sie ihm wieder auf den Fersen.

Schweigend liefen die drei durch den Wald. Die Äffin hatte Ausdauer. Herr Diểu fühlte sich mit einem Mal plötzlich grenzenlos beleidigt. Als verfolgte man ihn und verlangte eine Art Wiedergutmachung.

Jetzt verstand der Affe die Zeichen seiner Gefährtin. Er sträubte sich und machte Herrn Diểu schwer zu schaffen. Dieser  war ausgepumpt, und brachte nicht mehr die Kraft auf, den Affen zu halten. Die Hände des Affens zerkratzten seine Brust derart, daß Blut austrat. Schließlich hielt er es nicht mehr aus, und warf ihn grimmig zu Boden.

Der Affe lag langgestreckt im naßen Gras. Herr Diểu setzte sich traurig dreinschauend hinzu. Nicht weit davon hielt sich die Äffin hinter einem Baum versteckt und beäugte ihn. 

Herr Diểu verfiel in unendliche Trauer, bis auf den Grund seiner Seele. Er starrte auf die beiden Affen und ihm verschwammen die Augen. So schwer lastet die Verantwortung in diesem Sein auf jedem Wesen. 

– Nun, so schenke ich dir das Leben! – Herr Diểu saß für eine Weile still, erhob sich mit einem Ruck und spuckte auf den Boden. Nach kurzem Zögern eilte er von dannen. Als hätte sie auf diesen Moment gewartet, sprang die Äffin hervor, lief zu der Stelle, an der der Affe lag.

Herr Diểu schlug einen anderen Weg ein, um keinen Menschen zu begegnen. Seinen Pfad behinderten viele dornige Pflanzen, aber es gab an ihm auch unendlich viele Tử-huyền-Blumen. Herr Diểu blieb vor Überraschung stehen. Die Tử-huyền-Blumen blüten nur einmal in dreißig Jahren. Wer ihnen begegnet, dem werde Glück zuteil. Sie sind von weißer Farbe,  salzig im Geschmack und so winzig wie der Kopf eines Zahnstochers. Man nennt sie das Salz des Dschungels. Wenn der Dschungel Salz auffängt, ist das ein Zeichen dafür, daß Frieden ins Land einkehrt, und die Ernte gedeiht. 

Indem Herr Herr Diểu das Tal verließ, kam er ins freie Feld. Der Frühlingsregen fiel weich und dicht. Nackt und einsam trottete er dahin. Nach einer Weile entschwand er im Regen.

Nur noch einige Tage, dann begann der Sommer. Es würde wärmer werden. 

Aus dem Vietnamesischen von Trương Hồng Quang
unter Mitwirkung von Carsten Wurm


[i] Motive aus dem klassischen chinesischen Roman „Die Reise in den Westen“  

Theodor W. Adorno, Về ý nghĩa cuộc sống, sức khỏe, người Đức, vai trò của hồi ức, tương quan giữa dối trá và nghệ thuật…

Übersetzungsübungen anhand der unübersetzbaren Sätze von Adorno / Tiêu đề do người dịch đặt, từ những bài tập dịch trên cơ sở những câu văn bất khả dịch của Adorno

(1) “Leben, das Sinn hätte, fragte nicht danach.”
[“Sống mà có ý nghĩa thì chẳng cần phải băn khoăn về ý nghĩa của cuộc sống.”]

(2) “Gesundheit? – Was nützt einem Gesundheit, wenn man sonst ein Idiot ist.”
[“Có sức khoẻ ư? – Khoẻ thì liệu có ích gì, nếu ngoài đó ra ta là một kẻ ngu ngốc.”]

(3) “Ein Deutscher ist ein Mensch, der keine Lügen aussprechen kann, ohne sie selbst zu glauben.”
[“Một người Đức là một người không thể nói lên những điều dối trá mà không tin đó là sự thật.”]

(4) “„…dass in der Jugend unendlich Vieles als Versprechen des Lebens wahrgenommen wird, wovon dann der Alternde, durch die Erinnerung hindurch, erkennt, dass in Wahrheit die Augenblicke solchen Versprechens das Leben selber gewesen sind.
[“Khi còn trẻ có muôn điều được ta coi như là những hứa hẹn về cuộc sống, chỉ khi đã về già, qua lăng kính của hồi ức, ta mới nhận ra sự thật rằng những khoảng khắc hứa hẹn đó chính là cuộc sống.”]

(5) „Es gibt kein richtiges Leben im falschen.“
[“Không thể sống thật trong một cuộc đời giả“]

(6) “Kunst ist Magie, befreit von der Lüge, Wahrheit zu sein.”
[“Nghệ thuật là ma thuật, đã được giải thoát khỏi sự dối trá coi mình là chân lý.”]

(7) „Nach Auschwitz ein Gedicht zu schreiben, ist barbarisch“
[„Sau Auschwitz mà làm thơ là một hành động man rợ“]

(8) “Kunst will das, was noch nicht war, doch alles, was sie ist, war schon.”
[“Nghệ thuật muốn là cái chưa từng đã, nhưng tất cả những cái mà nó là, thì lại chỉ đã từng.”]

(9) “Wir verstehen nicht die Musik – sie versteht uns. Das gilt für den Musiker so gut wie für den Laien. Wenn wir sie uns am nächsten meinen, dann spricht sie uns an und wartet mit traurigen Augen, dass wir ihr antworten.”
[“Không phải ta hiểu âm nhạc, mà là âm nhạc hiểu ta. Điều này vừa đúng cho các nhạc sỹ, vừa đúng cho cả những người nghiệp dư. Mỗi khi ta cảm thấy âm nhạc gần gũi nhất thì nó sẽ gọi ta, và với ánh mắt buồn, sẽ chờ ta đáp trả.“]

(10) „Hoffnung ist nicht die festgehaltene Erinnerung sondern die Wiederkunft des Vergessenen.“
[„Hy vọng không phải là ký ức được níu giữ, mà là sự trở lại của những điều đã quên lãng.“]

Phần dịch tiếng Việt: THQ

Ode an die Freude / Tụng ca niềm vui

Aufführung / Biểu diễn: Đặng Ngọc Long (vocal & guitar) & Trương Hồng Quang (vocal)
Aufnahme und Abmischung / Kỹ thuật audio: Đặng Ngọc Long
Video: Đặng Ngọc Long & Trương Hồng Quang

LEBEN MIT CORONA – PODSCAST AUF VIETNAMESISCH AUS BERLIN
SỐNG CHUNG VỚI CORONA – PODCAST TIẾNG VIỆT TỪ BERLIN
SONDERFOLGE ZUM TẾT-FEST 2021
KỲ ĐẶC BIỆT TẾT TÂN SỬU 2021