„vogelzeitfrei“ hay là „tự do sã cánh như chim trời“ – Giới thiệu và trích đọc vở kịch „atlas“/“địa đồ“ của Thomas Köck

„eher keiner zeit
anzugehören
vogelzeitfrei“

„thà rằng
chẳng thuộc vào thời nào
tự do sã cánh như chim trời“

Giới thiệu vở kịch „địa đồ“ của Thomas Köck và trích đọc từ bản dịch tiếng Việt của tác phẩm tại chương trình ra mắt Zzz Review Số 11 „Về văn học Đức“, Manzi Art Space, Hà Nội, 31.07.2022 (thời lượng video 18 phút, đọc song ngữ và có phụ đề tiếng Đức).

Einführung über das Stück „atlas“ von Thomas Köck und Lesung aus der vietnamesischen Fassung des Werkes im Rahmen der Buchpremiere Zzz Review Nummer 11 „Zur deutschen Literatur“, Manzi Art Space, Hanoi, 31.07.2022 (Dauer des Videos 18 Minuten, zweisprachige Lesung und mit deutschen Untertiteln).

Lời cảm ơn

Xin chân thành cảm tạ Zzz Review và Chủ biên T.S Quyên Nguyễn, Tác giả của vở kịch, Thomas Köck, Nhà xuất bản Suhrkamp Verlag Berlin, Viện Goethe Việt Nam và cá nhân Viện trưởng Wilfried Eckstein, Nhà hát Kịch nói Leipzig và Nhà hát Kịch nói Wuppertal cũng như tất cả người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã đồng hành và hỗ trợ dự án này

Danksagung

Mit herzlichem Dank an die Zeitschrift Zzz Review und ihre Chefredakterin Dr. Quyen Nguyen, an Thomas Köck, den Schöpfer des Werkes, an den Suhrkamp Verlag Berlin, das Goethe-Institut Vietnam und seinen Direktor, Wilfried Eckstein, das Schauspiel Leizig und das Schauspiel Wuppertal sowie an alle anderen Mitwirkenden für die Unterstützung und Ermöglichung dieses Projektes.      

Nguồn gốc hình ảnh và âm thanh được sử dụng

Trong phim có sử dụng các tư liệu video của Trương Thùy An, Zzz Review và Manzi Art Space. Hầu hết các bức ảnh ở phần kết thúc là tác phẩm của các nhiếp ảnh gia của hai Nhà hát Kịch nói Leipzig và Wuppertal. Âm nhạc được sử dụng thuộc vở diễn „địa đồ„ của Nhà hát Kịch nói Leipzig, phần thể hiện bài dân ca Việt Nam “Con cò mày đi ăn đêm” thuộc vở diễn „địa đồ„ của Nhà hát Kịch nói Wuppertal.

Bild- und Tonnachweise

Im Film werden Videomaterialien von Trương Thùy An, Zzz Review und Manzi Art Space verwendet. Die Fotos im Abspann sind zum großen Teil Arbeiten der Theaterfotografen des Schauspiel Leipzig und des Schauspiel Wuppertal. Die Musik stammt aus der atlas-Inszenierung vom Schauspiel Leizig, die Rezitation der vietnamessichen Volksweise „Con cò mày đi ăn đêm“ (Der Storch geht nachts auf die Nahrungssuche) stammt aus der atlas-Inszenierung vom Schauspiel Wuppertal.

DRTRUONG – Podcast Việt-Đức từ Berlin
Kỳ 33, Thứ ba 02.08.2022

DRTRUONG – Vietnamesisch-Deutscher Podcast aus Berlin
Folge 33, Dienstag 02.08.2022
www.drtruong.de

Franz Kafka, Der Aufbruch / Khởi hành

Ich befahl mein Pferd aus dem Stall zu holen. Der Diener verstand mich nicht. Ich ging selbst in den Stall, sattelte mein Pferd und bestieg es. In der Ferne hörte ich eine Trompete blasen, ich fragte ihn, was das bedeutete. Er wusste nichts und hatte nichts gehört. Beim Tore hielt er mich auf und fragte: »Wohin reitet der Herr?« »Ich weiß es nicht«, sagte ich, »nur weg von hier, nur weg von hier. Immerfort weg von hier, nur so kann ich mein Ziel erreichen.« »Du kennst also dein Ziel«, fragte er. »Ja«, antwortete ich, »ich sagte es doch: ›Weg-von-hier‹ – das ist mein Ziel.« »Du hast keinen Eßvorrat mit«, sagte er. »Ich brauche keinen«, sagte ich, »die Reise ist so lang, daß ich verhungern muß, wenn ich auf dem Weg nichts bekomme. Kein Eßvorrat kann mich retten. Es ist ja zum Glück eine wahrhaft ungeheure Reise.«

Tôi ra lệnh đưa con ngựa của tôi ra khỏi chuồng. Người hầu không hiểu tôi. Tôi tự mình đi vào chuồng, thắng yên cương và lên ngựa. Từ đằng xa tôi nghe có tiếng kèn trumpet vọng tới, tôi hỏi y điều đó có nghĩa gì. Người hầu nói y chẳng hay biết gì và không hề nghe thấy gì. Khi tới cổng y ngăn tôi lại và hỏi: “Quý ông đang cưỡi ngựa đi đâu vậy?” “Ta không biết,” tôi nói, “miễn là đi khỏi đây, miễn là đi khỏi đây. Cứ đi hẳn khỏi chốn này, chỉ vậy ta mới đạt được mục tiêu của mình.”“Vậy là ông biết mục tiêu của mình?”, y hỏi. “Vâng,” tôi trả lời, “thì ta đã nói rồi, ‘đi-khỏi-đây’ – đó là mục tiêu của ta.” “Ông không mang theo thức ăn dự trữ”, y nói. “Ta chẳng cần”, tôi nói, “cuộc hành trình dài đến nỗi ta sẽ chết đói nếu không kiếm được gì dọc đường. Chẳng có một thứ thức ăn dự trữ nào có thể cứu được ta. May mắn thay, đây là một cuộc hành trình thực sự vĩ đại.”

Bản tiếng Việt: Trương Hồng Quang (06.07.2022)

„Woyzeck“ auf Vietnamesisch (mit deutschen Untertiteln) / Phác thảo kịch „Woyzeck“ của Georg Büchner qua phần diễn đọc của Nhà hát Tuổi trẻ Việt Nam

🇻🇳

Chương trình diễn đọc các trích đoạn từ phác thảo kịch „Woyzeck“ của Georg Büchner (1813-1837), bản dịch tiếng Việt của Trương Hồng Quang, trong khuôn khổ „Những ngày văn học châu Âu“ tại Viện Goethe Việt Nam, Hà Nội, 7.5.2022.

Xin trân trọng cảm ơn Viện Goethe Việt Nam, cá nhân Viện trưởng Wilfried Eckstein và các cộng sự, Nhà hát Tuổi trẻ Việt Nam về việc tổ chức và thực hiện chương trình. Xin cũng chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thị Hạnh Quyên, Chủ bút Tạp chí Văn chương Zzz Review, về việc tư vấn chuyên môn cho dự án và việc điều hành phần thảo luận.

Các diễn viên Nhà hát Tuổi trẻ Việt Nam tham gia chương trình diễn đọc: Đàm Hằng, Lê Bá Anh (Bá Anh) và Hữu Phương.

Quay phim và chụp ảnh: Trương Trần Phúc (Video có sử dụng một trích đoạn từ tư liệu Zoom-Video của Viện Goethe)    

Âm nhạc ở phần mở đầu và kết thúc video: Đặng Ngọc Long, Faust-Sonata, trích đoạn từ chương 1 „Faust“ (Logiker-Musikverlag Berlin 2022). Chúng tôi chân thành cảm ơn nhạc sỹ và nghệ sỹ Guitarre GS. Đặng Ngọc Longđã cho phép sử dụng các trích đoạn này từ tác phẩm của ông. 

🇩🇪

Szenische Lesung aus dem Dramenfragment „Woyzeck“ von Georg Büchner (1813-1837), vietnamesische Übersetzung und Bühnenfassung von Truong Hong Quang, im Rahmen der „European Literature Days 2022“ am Goethe-Institut Vietnam, Hanoi, den 7.5.2022.

Wir bedanken uns herzlich beim Goethe-Institut Vietnam, dem Institutsdirektor Wilfried Eckstein persönlich und seinem Team, sowie dem Youth Theatre of Vietnam für die Ermöglichung und Durchführung der Veranstaltung. Unser herzlicher Dank gilt auch Dr. Quyen Nguyen, der Cheredakteurin der Literaturzeitung Zzz Review für die fachliche Beratung des Projektes und die Moderation der Diskussion.

Beteiligte SchauspielerInnen des Youth Theatre of Vietnam: Đàm Hằng, Lê Bá Anh (Bá Anh) und Hữu Phương.

Kamera und Fotos: Phuc Truong (im Video ist auch ein Ausschnitt aus der Zoom-Aufnahme des Goethe Institutes Vietnam enthalten).

Musikalischer Einstieg und Ausklang: Dang Ngoc Long, Faust-Sonata, aus dem 1. Satz „Faust“ (Logiker-Musikverlag Berlin 2022). Wir danken dem Komponisten und Gitarristen Prof. Dang Ngoc Long für seine Erlaubnis, Auszüge aus seinem Album in unserem Video zu verwenden.

Georg Büchner, WOYZECK – Kịch bản chương trình diễn đọc tại Viện Goethe Hà Nội, 07.05.2022 (bản dịch tiếng Việt của Trương Hồng Quang)

Các nghệ sĩ Bá Anh, Đàm Hằng và Hữu Phương, Nhà hát Tuổi trẻ Việt Nam, tại chương trình diễn đọc vở WOYZECK ở Viện Goethe Hà Nội, 07.05.22, ảnh của Trương Trần Phúc

Video toàn bộ chương trình do Viện Goethe Hà Nội thực hiện xin xem ở đường link sau đây (thời lượng 1h30 phút, với các phần diễn đọc tác phẩm, thuyết trình và thảo luận):

https://fb.watch/d0yiROmKqJ/

Ghi chú của người dịch và tác giả kịch bản chương trình diễn đọc: Tổng thời lượng phần trích đọc tác phẩm khoảng 30 – 40 phút. Dự kiến có 3 diễn viên, 1 nữ 2 nam: Diễn viên nữ đọc các lời thoại của MARIE, NGƯỜI BÀ, cùng một diễn viên nam đọc xen kẽ phần giới thiệu nhân vật [1], sau đó đọc tiêu đề, các nội dung mô tả ở các phân đoạn [2], [5], [6], [8] và [13]. Một diễn viên nam đọc các lời thoại của WOYZECK. Diễn viên nam thứ hai cùng diễn viên nữ đọc xen kẽ phần giới thiệu nhân vật [1], sau đó đọc tiêu đề, các nội dung mô tả ở các phân đoạn [3], [4], [7], [9], [10], [11] và [12]. Số thứ tự của các màn đánh theo số thứ tự của nguyên tác, cần đọc rõ để người nghe hình dung trình tự của vở kịch và các chỗ bị ngắt quãng (ví dụ từ màn 1 chuyển sang màn 4, bỏ các màn 2 và 3 v.v.)


[1] NHÂN VẬT

FRANZ WOYZECK
MARIE, tình nhân của Woyzeck
ĐỘI TRƯỞNG QUÂN NHẠC
ĐẠI ÚY
ĐỐC TỜ
GIÁO SƯ
NGƯỜI XƯỚNG CHƯƠNG TRÌNH trước rạp diễn
NGƯỜI TRÌNH DIỄN trong rạp
ANDRES, đồng đội của Woyzeck
NGƯỜI BÀ
KARL, thằng ngốc
MARGRETH, láng giềng của Marie
KÄTHE, một cô gái ở quán nhảy
NGƯỜI DO THÁI, chủ một cửa hàng tạp hóa
CHỦ QUÁN RƯỢU
HẠ SĨ QUAN
NHÂN VIÊN TÒA ÁN
THỢ THỦ CÔNG THỨ NHẤT, THỢ THỦ CÔNG THỨ HAI
NGƯỜI THỨ NHẤT, NGƯỜI THỨ HAI
ĐỨA BÉ THỨ NHẤT, ĐỨA BÉ THỨ HAI, ĐỨA BÉ THỨ BA
ÔNG LÃO, người hát rong
CHRISTIAN, con trai của Marie và Franz, khoảng một tuổi
BÁC SỸ chuyên gia pháp y
THẨM PHÁN

Lính, sinh viên, người dân. Một con khỉ, một con ngựa trong rạp diễn.

[2] Màn 1: CÁNH ĐỒNG HOANG.
THÀNH PHỐ Ở PHÍA XA

Woyzeck và Andres đẽo gậy trong bụi rậm.

WOYZECK
Này Andres, cậu có thấy vệt sáng trên đám cỏ đằng kia không? Cứ chiều tối là lại có cái đầu lâu lăn lông lốc ở đó, một lần có kẻ nhấc nó lên và tưởng đó là một con nhím. Sau ba ngày ba đêm thì hắn đã nằm thẳng cẳng trong quan tài (hạ giọng) Andres, đó là hội viên của Hội tam điểm, tớ biết chắc, đó là hội viên của Hội tam điểm, im nào!

ANDRES (hát)
„Ngồi đằng kia có hai chú thỏ
Hai chú thỏ gặm đám cỏ xanh non …“

WOYZECK
Xuỵt! Có cái gì đó đang di chuyển!

ANDRES
„Hai chú thỏ gặm đám cỏ xanh non
Gặm trụi trơ đến tận gốc cỏ.“

WOYZECK
Có tiếng chân đi đằng sau tớ (giẫm xuống nền đất) ở phía dưới rõ ràng là rỗng, cậu có nghe thấy gì không? Tất cả đều rỗng không ở dưới kia. Đích thị đó là hội viên Hội Tam điểm!

ANDRES
Tớ thấy ghê ghê rồi đấy.

WOYZECK
Im lặng một cách quái đản. Tới mức ngạt thở. Andres!

ANDRES
Gì cơ?

WOYZECK
Cậu nói cái gì đi chứ! (Nhìn chằm chằm vào cảnh vật xung quanh) Andres! Khắp nơi mọi thứ đều rực sáng! Lửa đang cháy ngút trời, có tiếng kèn đồng dội xuống ầm ầm. Lửa đang bốc lên ngùn ngụt! Chạy đi! Đừng có mà nhìn lại phía sau lưng! (Kéo Andres vào bụi rậm)

ANDRES (sau một lúc)
Woyzeck! Cậu còn nghe gì nữa không?

WOYZECK Tất cả đều im bặt, lặng như tờ, như cả thế giới này đều đã chết.

ANDRES
Cậu có nghe gì không? Trong doanh trại đã nổi trống hiệu rồi đó. Ta phải quay về ngay.

Trích đoạn dàn dựng tham khảo:

[3] Màn 4: TRONG PHÒNG

Marie ngồi, bế con trong lòng, trên tay cầm một mảnh gương.

MARIE (soi gương)
Ôi, những viên đá mới lấp lánh làm sao! Thế nhưng ta lại không biết chúng là loại đá quý nào? Chàng ấy nói với mình điều gì nhỉ? – Con trai ơi, ngủ đi nào! Nhắm mắt vào, nhắm thật chặt vào (đứa bé dùng tay che mắt) nhắm chặt hơn nữa, cứ nhắm nghiền như vậy, con phải nín thinh, nếu không thì ông Ộp sẽ đến bắt mày đó.

(Hát) „Cô gái ơi, hãy đóng cửa sổ lại,
Nếu không sẽ có chàng trai Di Gan lẻn vào phòng cô đêm nay,
Chàng ấy sẽ cầm tay cô
Và rước cô về xứ Di Gan.“

(Lại soi gương) Hẳn là vàng thật! Lũ chúng ta chỉ có một góc tồi tàn trên thế giới và một mảnh gương nhỏ, nhưng mà tôi có một đôi môi đỏ, đỏ mọng hơn cả tất cả các quý bà có những tấm gương lớn soi từ đầu xuống chân, các quý bà có các quý ông sang trọng hôn lên tay họ; ôi, tôi chỉ là một cô gái nghèo hèn. – (Đứa bé nhổm dậy.) Im nào con trai, nhắm mắt lại đi, ông Ộp đang đến kia kìa! Ông ấy đi xung quanh tường (cô dùng gương chớp chớp), nhắm mắt lại đi, ông Ộp mà nhìn thấy con là mù mắt đấy.

Woyzeck bước vào, tiến đến phía sau Marie.
Cô giật mình, đưa tay lên che tai.

WOYZECK
Cô có cái gì vậy?

MARIE
Chẳng có cái gì hết.

WOYZECK
Rõ ràng là có cái gì đó đang lấp lánh trong ngón tay của cô.

MARIE
Một chiếc khuyên tai, em nhặt được nó.

WOYZECK
Tôi thì chẳng bao giờ nhặt được một cái gì hết. Mà lại cả hai cùng một lúc.

MARIE
Ý anh bảo tôi là một con điếm hay sao?

WOYZECK
Thôi được rồi, Marie. – Xem con trai đang ngủ kìa. Em hãy bế con lên đi, cái thành ghế đang đè lên người nó. Mồ hôi đang vã ra trên trán nó. Lũ chúng ta thì chẳng có gì khác, ngoài công việc lao lực dưới ánh nắng, cả đến con trẻ lúc ngủ cũng đổ mồ hôi. Ôi phận nghèo của đôi ta! Marie, anh lại có chút tiền đây, lương của anh, và kèm theo chút tiền công của ông đại úy.

MARIE
Chúa phù hộ cho anh, Franz.

WOYZECK
Anh phải đi đây. Hẹn đến đêm nay nhé, Marie. Chào em.

MARIE (một mình, sau một lúc im lặng)
Ta thật là một kẻ đê hèn. Thà ta tự đâm chết mình cho xong. – Trời ơi! Thế gian là vậy sao? Quỷ tha ma bắt hết tất cả đi, cả đàn ông lẫn đàn bà.

Trích đoạn dàn dựng tham khảo:

[4] Màn 6: TRONG PHÒNG

Marie. Đội trưởng quân nhạc

ĐỘI TRƯỞNG QUÂN NHẠC
Marie!

MARIE (nhìn anh ta đắm đuối)
Chàng hãy bước tới cho em ngắm nào. Ôi, lồng ngực của chàng như một con bò mộng, chòm râu của chàng như chúa sơn lâm! Chẳng thể ai sánh được cùng chàng. – Tôi là người đàn bà hãnh diện nhất thế gian!

ĐỘI TRƯỞNG QUÂN NHẠC
Đấy là nàng còn chưa mục sở thị ta vào ngày chủ nhật, với chùm lông vũ trên mũ sắt và đôi găng tay trắng muốt! Ái chà chà, Marie, nàng có biết không, ngay cả Chúa công cũng phải tấm tắc: Thế mới đường đường là một đấng nam nhi chứ!

MARIE (giễu cợt)
Thật ư? (Đến trước mặt anh ta) Ôi, gã trai của em!

ĐỘI TRƯỞNG QUÂN NHẠC
Mà nàng thì cũng rõ là một cô ả nái nẩm. Chúa ơi, ta cùng đúc một dàn đội trưởng quân nhạc nhé? Có chịu không! (Anh ta ôm cô)

MARIE (vùng vằng)
Đừng có mà chạm vào tôi!

ĐỘI TRƯỞNG QUÂN NHẠC

Đồ thú hoang!

MARIE (hổn hển)
Buông tôi ra!

ĐỘI TRƯỞNG QUÂN NHẠC
Tôi thấy có con ác quỷ trong ánh mắt của cô!

MARIE
Thì đã sao. Đã vậy thì cho xong luôn một thể.

Trích đoạn dàn dựng tham khảo:

[5] Màn 10: TRẠM GÁC

Woyzeck. Andres

ANDRES (hát)

„Bà chủ nhà có cô hầu gái,
Cô ả ngồi tha thẩn cả ngày lẫn đêm ngoài vườn,
Tha thẩn cả ngày lẫn đêm ngoài vườn …“

WOYZECK
Andres!

ANDRES
Sao rồi?

WOYZECK
Thời tiết thật đẹp.

ANDRES
Một ngày chủ nhật có ánh nắng chan hòa, phía ngoài thành phố tiếng đàn ca đang nổi lên rộn rã. Các cô gái đã kéo ra ngoài đó, họ đang nhảy nhót, mồ hôi tuôn nhễ nhại.

WOYZECK (bất an)
Andres, cô ta đang khiêu vũ.

ANDRES
Đúng rồi, ở Rössel, tại quán Ngôi sao.

WOYZECK
Cô ta đang nhảy, nhảy.

ANDRES
Thì đã sao.
(hát)
„Cô ả ngồi tha thẩn ngoài vườn
Cho tới khi chuông nhà thờ điểm mười hai giờ
Ả ngóng chờ những gã lính điển trai.“

WOYZECK
Andres, tớ thấy không yên trong lòng.

ANDRES
Đồ khùng!

WOYZECK
Tớ phải đi ra ngoài đây. Đầu óc tớ đang quay cuồng. Nhảy, nhảy! Trời ơi, đôi bàn tay cô ta mới nóng bỏng làm sao. Andres, thật chết tiệt!

ANDRES
Cậu muốn gì nào?

WOYZECK
Tớ phải đi đây.

ANDRES
Vì cái con ngựa cái đó?

WOYZECK
Tớ phải ra ngoài, ở đây bức bối quá.

Trích đoạn dàn dựng tham khảo:

[6] Màn 15: CỬA HIỆU TẠP HÓA

Woyzeck. Người Do thái

WOYZECK
Khẩu súng lục giá quá mắc.

NGƯỜI DO THÁI
Nào, nhà anh có mua hay không thì bảo?

WOYZECK
Con dao này giá bao nhiêu?

NGƯỜI DO THÁI
Nó khá sắc đấy. Anh định tự cắt cổ à? Nào, quyết chưa? Tôi sẽ giảm giá đặc biệt cho, anh sẽ có được cái chết với giá thật hời, nhưng mà chẳng phải cho không đâu nhé. Thế nào rồi? Nhà anh sẽ có một cái chết khuyến mại.

WOYZECK
Con dao này không phải chỉ để cắt bánh mì.

NGƯỜI DO THÁI
Hai đồng.

WOYZECK
Tiền đây! (Đi ra ngoài)

NGƯỜI DO THÁI
Tiền đây! Cứ như thể tiền là rác vậy. Tiền là tiền. Đồ chó má.

Trích đoạn dàn dựng tham khảo:

[7] Màn 16: TRONG PHÒNG

Marie. Đứa con. Thằng ngốc.

MARIE (lần dở trong Kinh thánh)
“Và trong miệng Người chẳng tìm được một lời dối trá.” – (nói với đứa con) Yên nào, yên nào, con đừng có mà nhìn mẹ như vậy! (lật tiếp trong Kinh thánh) „Người Pha-ri-sêu dẫn đến trước mặt Ngài một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình và đặt chị ta đứng ở giữa. – Nhưng Đức Giêsu nói: Tôi cũng không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” (Đan tay vào nhau) Lạy Chúa tôi! Lạy Chúa nhân từ! Tôi đã kiệt sức. Lạy Chúa toàn năng, xin hãy cho con chút sức mạnh để cầu nguyện.
(Đứa con nép vào cô)
Ôi, đứa bé khiến cho trái tim tôi bị tan nát (Nói với Karl đang nằm phía dưới chân cô) Karl! Hãy mang thằng bé ra ngoài cho nó sưởi nắng.

KARL (đang nằm và điểm các tích chuyện cổ tích trên đầu ngón tay)
Nhà vua, Đức vua có một vương miện bằng vàng. Mai ta sẽ mang đứa con về cho Hoàng hậu. Dồi tiết nói với dồi ba tê: Nào hãy đến đây! (đón đứa trẻ và ngừng nói.)

MARIE
Franz chẳng về nhà, hôm qua không về, hôm nay cũng không, ở đây sao bức bối thế này. Cô mở cửa sổ. „Và chị ta bước vào, quỳ dưới chân Đức Giêsu khóc than, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người, lấy tóc mình mà lau, rồi hôn lên chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên.” Đập tay lên ngực. Hết thảy đều đã chết! Ôi Giê Xu, Đấng cứu rỗi, giá như con được phép xức dầu thơm lên chân Người!

Trích đoạn dàn dựng tham khảo:

[8] Màn 17: TRẠI LÍNH

Andres. Woyzeck lục lọi trong đồ đạc của mình.

WOYZECK
Cái áo trấn thủ này không phải là đồ quân phục được cấp phát, cậu có thể lấy nó để dùng, Andres. Cây thánh giá này là dành cho em gái của tớ, cả chiếc nhẫn. Tớ còn có bức tranh thánh, với hai hình trái tim, mạ vàng hẳn hoi, xếp trong cuốn Kinh thánh của mẹ tớ, ở trong đó có ghi:

„Khổ đau là hết thảy những gì ta có,
Ta thờ Đức Chúa trời bằng khổ đau,
Lạy Chúa, khi thân thể của Người đẫm máu và đầy thương tích, Xin hãy để cho trái tim con đau đớn cùng Người.“
Mẹ của tớ chỉ còn biết cảm giác khi có ánh nắng chiếu trên tay bà. Mà cũng chẳng hề chi.

ANDRES (bất động, luôn chỉ đáp)
Được rồi.

WOYZECK (lôi một tờ giấy ra)
Friedrich Johann Franz Woyzeck, lính bộ binh, đại đội 2, tiểu đoàn 2, trung đoàn 4, sinh vào Lễ Truyền tin mừng, hôm nay ngày 20 tháng Bảy tôi tròn 30 tuổi, 7 tháng, 12 ngày.

ANDRES
Franz, cậu phải nhập viện. Thật tội nghiệp cho cậu, cậu phải uống rượu nặng hòa với thuốc bột, may ra như vậy mới hạ cơn sốt được.

WOYZECK
Vâng, Andres, người thợ mộc khi đóng quan thì nào có biết sẽ kê đầu ai vào đấy.

Trích đoạn dàn dựng tham khảo:

[9] Màn 19 (Trích đoạn): MARIE VÀ CÁC CÔ GÁI TRƯỚC CỬA NHÀ

NGƯỜI BÀ
Ngày xửa ngày xưa có một đứa trẻ nghèo, không cha không mẹ. Mọi người thân đều đã chết, nó chẳng còn một ai trên cõi đời. Tất cả đều đã chết, nó bỏ nhà ra đi và than khóc suốt ngày đêm. Bởi chẳng còn ai trên đời nên nó muốn đi lên trời. Vầng trăng nhìn nó thật ân cần, nhưng khi nó đi mãi, đi mãi mới tới nơi thì vầng trăng là một khúc gỗ mục nát. Rồi nó đi về hướng mặt trời, nhưng khi nó tới nơi thì mặt trời là một bông hoa hướng dương héo tàn. Rồi nó đi về hướng các vì sao, nhưng khi nó tới nơi thì các vì sao là những con muỗi nhỏ bằng vàng bị chim bách thanh xiên vào cành mận gai. Và khi nó muốn quay trở về trái đất thì trái đất là một cái bô úp ngược. Chỉ còn lại một thân một mình, nó ngồi thụp xuống khóc nức nở, cho đến tận bây giờ nó vẫn còn ngồi đó, một thân một mình.

Trích đoạn dàn dựng tham khảo:

[10] Màn 20: BUỔI TỐI. THÀNH PHỐ Ở PHÍA XA

Marie và Woyzeck

WOYZECK
Marie!

MARIE (hoảng hốt)
Có chuyện gì vậy?

WOYZECK
Marie, ta đi thôi, đến giờ rồi.

MARIE
Đi đâu?

WOYZECK
Làm sao tôi biết?

MARIE
Đi ra phía ngoài thành phố ư, trời đang tối đen như mực.

WOYZECK
Dừng lại đã. Cô ngồi xuống đây.

MARIE
Nhưng mà em phải về nhà.

WOYZECK
Cô sẽ chẳng phải đi xa đến mức rát cả chân đâu.

MARIE
Sao anh trông lạ vậy?

WOYZECK
Marie, cô còn nhớ chúng ta đã gặp nhau bao lâu rồi không?

MARIE
Đến Lễ Hiện xuống sắp tới thì đã tròn hai năm.

WOYZECK
Vậy cô có biết sẽ còn bao lâu nữa không?

MARIE
Em phải về nhà, sương đêm đã rơi xuống rồi.

WOYZECK
Marie, có phải cô đang bị rét? Nhưng mà thân thể cô đang ấm áp. Cô có đôi môi nồng nàn làm sao! Cô có hơi thở nóng bỏng của một con điếm, và tôi muốn cầu xin Thượng đế để được hôn lên đôi môi này một lần cuối. Và khi người đã giá lạnh thì cô cũng sẽ không biết rét nữa. Sương mai sẽ không khiến cô bị lạnh.

MARIE
Anh nói gì cơ?

WOYZECK
Không gì hết. (Câm lặng)

MARIE
Ôi trăng đang mọc, nó đỏ ngầu.

WOYZECK
Như một cục sắt nung đỏ.

MARIE
Anh định làm gì vậy? Franz, mặt anh sao tái nhợt thế kia. Franz, dừng lại! Lạy Chúa tôi, xin hãy cứu con! Cứu tôi với!

WOYZECK
Hãy nhận lấy cái này, cái này nữa! Ô, cô không chết được à? Này! Nữa này! A, cô ta vẫn còn co giật? Vẫn chưa chết được? Vẫn còn sống? (Đâm tiếp.) Cô đã chết hẳn chưa? Chết rồi! Chết thật rồi! (Có người đến, Woyzeck bỏ chạy.)

Trích đoạn dàn dựng tham khảo:

[11] Màn 23: BUỔI TỐI. THÀNH PHỐ Ở PHÍA XA

Woyzeck một mình

WOYZECK
Con dao? Con dao đâu rồi? Ta đã vứt nó lại ở đây mà. Nó sẽ làm ta bị lộ. Phải đến gần nữa, gần nữa. Chỗ đấy là chỗ nào? Ta đang nghe thấy cái gì thế này? Xuỵt, có cái gì đó đang động đậy. Ngay gần đây. Marie? Ôi Marie! Sao câm lặng thế này. Hết thảy đều câm lặng! Marie, sao em lại tái nhợt thế kia? Sao lại có một sợi dây đỏ quấn quanh cổ em? Em kiếm ở đâu ra chiếc kiềng đeo cổ này, với tất cả những tội lỗi mà em đã có? Thân thể của em đen ngòm, đen ngòm bởi tội lỗi! Và ta đã tẩy trắng tội lỗi cho em! Sao mái tóc huyền của em lại xõa xượi thế kia? Hôm nay em quên không thắt bím tóc hay sao? Mà có vật gì đó đang nằm ở đây! Lạnh ngắt, ẩm ướt, và câm lặng. Đi ngay khỏi chỗ này thôi. Con dao, con dao, ta đã tìm thấy nó chưa? Nó đây rồi. Có người đang đi đến. – Ở đằng kia. (Anh ta bỏ chạy)

Trích đoạn dàn dựng tham khảo:

[12] Màn 26: NHÂN VIÊN TÒA ÁN. BÁC SỸ. THẨM PHÁN

NHÂN VIÊN TÒA ÁN
Một vụ giết hay, giết thật, giết đẹp! Đẹp hơn cả mong đợi, lâu lắm rồi mới có một án mạng ngoạn mục như vậy.

Trích đoạn dàn dựng tham khảo:

[13] Màn 27: THẰNG NGỐC. ĐỨA BÉ. WOYZECK

KARL (bế con trai của Woyzeck và Marie trên lòng)
Có người bị đuối nước, có người bị đuối nước, có người bị đuối nước.

WOYZECK
Christian, ôi con trai của bố!

KARL (nhìn Woyzeck trân trân)
Có người bị đuối nước.

WOYZECK (muốn âu yếm đứa con, nó giãy ra và thét lên)
Lạy Chúa tôi!

KARL
Có người bị đuối nước.

WOYZECK
Christian, bố sẽ mua cho con một cái bánh nướng nhé. (Đứa con kháng cự. Nói với Karl) Mua cho thằng bé một cái bánh nướng nhé.

KARL (nhìn Woyzeck trân trân)

WOYZECK
Nhong nhong! Nhong nhong! Ngựa ông đã về.

KARL (hân hoan)
Nhong nhong! Nhong nhong! Ngựa ông đã về! (chạy biến đi cùng đứa trẻ.)

Trích đoạn dàn dựng tham khảo:

“Nhớ thương cách vời, ơi biển chiều nay” – Hồi ức về nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ (1936-2022)

Nguyễn Tài Tuệ đối với tôi – có lẽ như đối với phần lớn thính giả âm nhạc thuộc cùng thế hệ, sinh ra và lớn lên ở miền Bắc – trước hết là tác giả của hai ca khúc „Xa khơi“ và „Tiếng hát giữa rừng Pác Bó“. Ấn tượng về bài „Xa khơi“ đương nhiên gắn liền với giọng hát của Tân Nhân (tôi không nghe, hay chưa có dịp nghe bất cứ ca sĩ nào khác hát bài này). Còn „Tiếng hát giữa rừng Pác Bó“, với riêng tôi, lại liên quan nhiều hơn đến một kỷ niệm cá nhân, trong một dịp cùng gia đình bên ngoại về thăm quê ở Hải Hậu, Nam Định, cách đây cũng đã hơn mười lăm năm.

Lần đó, sau khi cơm nước xong, cả nhà kéo sang một quán Karaoke bên cạnh khách sạn, chủ yếu là để nghe T. hát. T. là con gái em trai của vợ tôi, cháu lúc đó đang là sinh viên thanh nhạc tại Nhạc viện Hà Nội. „Tiếng hát giữa rừng Pác Bó“ nổi tiếng không kém „Xa khơi“, có lẽ còn được phát nhiều hơn trên đài phát thanh, truyền hình và chắc chắn tôi đã nghe không chỉ một lần trước đó. Nhưng được nghe live, thưởng thức sự thể hiện trực tiếp của nghệ sĩ vẫn là một trải nghiệm đặc biệt, nhất là T. lại có một giọng hát rất đẹp và chuyên nghiệp, được đào luyện bởi một nữ ca sĩ hàng đầu, đã thành danh với chính ca khúc này.

Khác với „Xa khơi“, một bản tình ca đôi lứa trên nền lịch sử chia cắt bi thảm của đất nước, „Tiếng hát giữa rừng Pác Bó“ thực ra thuộc dòng tác phẩm tuyên truyền, hay „Lãnh tụ ca“, và theo lẽ thường sẽ bị thời gian đào thải rất nhanh chóng. Cũng chính vì vậy mà tôi đã khá ngạc nhiên khi chứng kiến một cô gái còn rất trẻ, thuộc thế hệ „A-còng“, đã hát ca khúc này với tất cả cảm xúc nồng cháy, chân thành, gợi nên cả một trời liên tưởng trong lòng người nghe về một không-thời gian đặc biệt, chứa chất biết bao những tình cảm trong sáng, tin cậy, hào hùng, lãng mạn…

Tôi không còn cơ hội để bày tỏ những ấn tượng như thế này với nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ nữa. Và trong một chuyến bay từ Berlin về Hà Nội vào cuối xuân, đầu hè năm 1985, khi ngẫu nhiên của số phận đã xếp cho tôi ngồi ngay cạnh ghế của ông, được trò chuyện với ông trong suốt cả chuyến bay dài, tôi cũng đã không chia sẻ chúng với ông. Và rất có thể là vào thời điểm đó tôi cũng chưa hề có những cảm xúc, những cảm nhận như vậy về tác phẩm của nhạc sĩ.

Đó là chuyến bay về nước sau khi tốt nghiệp của tôi, sau gần tám năm đèn sách ở Leipzig. Trong những câu chuyện với ông, tất nhiên không diễn ra liên tục, mà bị ngắt quãng nhiều lúc, tôi nhớ chủ yếu mình đã hỏi ông về vùng quê chung ở Nghệ Tĩnh, về những người tài trong dòng họ của ông ở Thanh Chương (có thể tôi đã kể với ông những hồi ức về GS Nguyễn Tài Cẩn), về vùng quê Bạch Ngọc nơi tôi sống thời thơ ấu với ông bà nội và là một tụ điểm của trí thức, văn nghệ sỹ khu bốn thời kỳ kháng chiến chống Pháp trước đó. Tôi nhớ ông cũng đã hỏi tôi về đề tài luận án tốt nghiệp của tôi, về „Faust“ của Goethe, về „Truyện Kiều“ của Nguyễn Du. Và ông cũng đã kể cho tôi nghe về thời kỳ du học của ông ở Triều Tiên, và chắc cũng vì liên quan đến mạch thể loại trường ca của „Truyện Kiều“, tiểu thuyết tài từ – giai nhân thời Minh-Thanh v.v. mà ông đã nói cho tôi nghe về những truyền thống tự sự trong văn học Triều Tiên cổ điển, về cái gốc văn hiến của nó…

Gần bốn thập kỷ đã trôi qua từ lần gặp gỡ vô tình này, phần lớn các chi tiết trong đó đã trở nên hoàn toàn nhạt nhòa trong ký ức. Và mặc dù sau đó có gần hai năm sống ở Hà Nội, trước khi trở lại Đức, tôi đã không có cơ hội và cơ duyên được gặp lại ông. Nhưng mỗi lần được nghe một trong hai ca khúc đã trở thành bất tử của ông (thật tiếc tôi không biết đến một tác phẩm khác của Nguyễn Tài Tuệ) tôi lại nhớ đến kỷ niệm này. Đặc biệt, như đã nói, trong cái lần đã cách đây hơn mười lăm năm, ở bên bãi biển Hải Thịnh, khi được nghe cô cháu gái hát „Tiếng hát giữa rừng Pác Bó“ của ông.

Nếu được lùi lại thời gian gần bốn thập kỷ về trước, nếu lại được ngồi bên ông trong một chuyến bay xuyên lục địa, xuyên thời gian, có thể tôi sẽ đặt cho ông cái câu hỏi mà ngày trước tôi chưa hỏi ông, chưa thể có để hỏi ông: Liệu có thể có một thứ chân lý, một thứ sự thật riêng của âm nhạc, vượt lên những sở chỉ cụ thể của ca từ, của ngôn ngữ, vẫn tiếp tục khiến cho ta mãi vương vấn, hoài cảm, gợi nên những niềm hy vọng, ngay cả khi cái thời đại mà nó phản ánh, tin tưởng và phụng sự đã lùi hẳn vào quá khứ?

Nương đồi bát ngát
Gió ngàn vờn mây nắng chiều về đây
Nhớ thương cách vời, ơi biển chiều nay…“

Berlin-Biesdorf, ngày 11.02.2022

CẢM NHẬN VỀ TÁC PHẨM „FAUST-SONATA“ CỦA NHẠC SỸ ĐẶNG NGỌC LONG 

Sáng hôm nay, trên đường đi làm – ở trên xe ô tô – lần đầu tiên tôi đã được nghe toàn bộ tác phẩm Faust-Sonata của GS Đặng Ngọc Long mà anh vừa mới hoàn thành trong những ngày này. Là người có may mắn được tác giả chia sẻ những ý tưởng của mình từ lúc khởi đầu quá trình sáng tạo, tức cách đây đã từ ba năm về trước, tôi rất vui mừng và xúc động về sự kiện âm nhạc này, đúng trước thềm Tết nguyên đán Nhâm dần 2022.  

Chúng ta đều biết vở bi kịch Faust của thi hào Goethe là tập đại thành của nền văn học Đức, một tượng đài văn chương độc nhất vô nhị, có vị trí tương tự như Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du trong nền văn học dân tộc của Việt Nam.[1]Tác phẩm này cũng là một nguồn cảm hứng vô tận cho những tên tuổi âm nhạc lẫy lừng nhất ở Đức và châu Âu, từ những ca khúc chuyển thể ngắn như Gretchen am Spinnrade („Gretchen bên khung cửi“) của Franz Schubert[2], đến vở opera “Faust” gồm 5 hồi của nhạc sỹ Pháp Charles Gounold[3], giao hưởng Faust gồm 3 chương của Franz Liszt[4], và đặc biệt nhất, bản giao hưởng số 8 – bản giao hưởng được mệnh danh là “Giao hưởng của 1000 người” của Gustav Mahler[5] – với chương cuối là phần phổ thơ từ phần cuối tập II của vở bi kịch Faust. Tuy nhiên cho đến nay, theo tôi được biết, chưa có một tác phẩm độc tấu nào về chủ đề Faust, và chắc chắn là chưa có một tác phẩm độc tấu nào viết cho đàn Guitar cổ điển dựa trên tác phẩm này.

Faust-Sonata như vậy cũng sẽ là một cột mốc trong dòng lịch sử âm nhạc ở Đức và châu Âu về đề tài Faust. Trong quá trình sáng tạo, tôi được biết Đặng Ngọc Long cũng đã nghe và tham khảo các thành tựu của các nhà soạn nhạc trước anh. Bản thân tôi cũng từng có dịp được trò chuyện với anh, đặc biệt về hai bản giao hưởng Faust đã nhắc tới của Liszt và Mahler. Việc đánh giá Faust-Sonata của Đặng Ngọc Long thuộc thẩm quyền của các chuyên gia âm nhạc. Với bản thân tôi, một người nghe ngoại đạo, tôi đã có những cảm nhận bước đầu rất bất ngờ và thú vị về cách xử lý của tác giả. 

Chương 1Faust, khác với chất sôi nổi, nổi loạn chẳng hạn trong chương 1 cùng tên của Liszt, ở Đặng Ngọc Long lại đậm đà tính chất hồi tưởng, hoài cảm, với những giai điệu trữ tình, miên man, tuôn chảy, có lẽ thuộc hàng những giai điệu đẹp nhất trong trong sáng tác của Đặng Ngọc Long từ trước tới nay. 

Chương 2, mang tên Gretchen, khắc hoạ mối tình của Faust, lại mang tính nhí nhảnh, gợi lên cảm giác của những vũ điệu, và đặc biệt ở phần cuối với những phát triển cao trào, tạo nên những ấn tượng bão táp, nổi loạn. Với tôi đây là một sự đảo ngược lại hết sức bất ngờ và thú vị, nếu so sánh với cách xử lý với hai nhân vật Faust và Gretchen trong lịch sử âm nhạc truyền thống.

Chương 3, chương dài nhất, mang tiêu đề Mephisto (Quỷ Mephisto) là chương mà tác giả theo tôi được biết đã dành nhiều thời gian và công phu nhất trong quá trình sáng tác. Ở đây, chúng ta sẽ được tiếp cận với nhiều thủ pháp hiện đại, các kỹ thuật „gõ“, „vuốt“, rồi các nghịch âm v.v. để khắc hoạ chân dung Quỷ. Tuy nhiêu, điều bất ngờ nhất với tôi ở đây là sự trở lại của chủ đề hoài cảm, chủ đề khát vọng của Faust từ chương 1 và chủ đề tình yêu của Gretchen từ chương 2 ở cái phần kết thúc của chương 3 này. Tiếp theo đó, ở gần kết thúc, dường như ta cảm thấy có những tiếng chuông đồng vọng, vang lên như một viễn cảnh giải thoát (Erlösung) với ý thơ “Thiên tĩnh nữ vĩnh hằng – Gọi ta lên cao mãi”[6] như trong phần kết lại vở bi kịch của Goethe. Nhưng Faust-Sonata không kết thúc với một khung cảnh dịu êm hay lộng lẫy mang tính giải thoát tôn giáo như ở giao hưởng của Franz Liszt[7] hay của Gustav Mahler[8], mà bằng một tiếng vuốt „sắc lẹm“ trên dây đàn, mà ở đây tôi hiểu một cách rất chủ quan như lời nhắn gọi vừa dữ dội, vừa hài hước, tinh quái của quỷ Mephisto, như cách chúng ta vẫn thường nói: „Hãy đợi đấy!“ 

Năm 2016 nhạc sỹ Đặng Ngọc Long công bố Suite Kiều (Tổ khúc Kiều)[9]. Tác phẩm này đã khẳng định vị trí của mình trong các chương trình thi âm nhạc Guitar quốc tế, từng vang lên chẳng hạn hạn tại Bảo tàng khảo cổ học Đức ở Chemnitz nhân đợt triển lãm „Báu vật khảo cổ học Việt Nam“ vào thời điểm mà quan hệ giữa hai nước đang gặp khó khăn trong năm 2018, được dự kiến biểu diễn tại Trụ sở UNESCO năm 2020 nhân sự kiện chính thức kỷ niệm 200 năm ngày mất của thi hào Nguyễn Du, nếu không có có đại dịch Covid-19 diễn ra.

Tôi xin chúc nhạc sỹ Đặng Ngọc Long sẽ dành được những thành công rực rỡ tương tự với Faust-Sonata, và tin rằng với ngôn ngữ âm nhạc không biên giới, tác phẩm này sẽ mang đến cho công chúng Việt Nam tinh hoa của nền văn học, văn hóa Đức, đồng thời giới thiệu với công chúng âm nhạc cổ điển Đức và châu Âu một cách diễn giải riêng, độc đáo, đậm đà tính chất Phương Đông về một tượng đài văn hóa của chính họ – về nền văn hóa Đức và châu Âu.

Berlin, ngày 22.1.2022
Trương Hồng Quang


[1] Về quá trình tiếp nhận tác phẩm „Faust“ của Goethe ở Việt Nam và „Truyện Kiều“ ở Đức xin xem: https://dasmaedchenkieu.wordpress.com/2020/11/26/faust-cua-goethe-o-viet-nam-va-truyen-kieu-cua-nguyen-du-o-duc-so-sanh-hai-qua-trinh-giao-luu-va-tiep-bien-van-hoa/

[2] Bản soạn cho dàn nhạc của Max Reger với ca sỹ Renee Fleming, Lucerne Festival Orchestra, Claudio Abbado chỉ huy (2010) https://youtu.be/vrgnGgOWJ2w và bản soạn cho piano của Franz Liszt, do Evgeny Kissin biểu diễn (1969) https://youtu.be/1Nyu6D8JDTA

[3] Bản dựng tại Salzburger Festspiele 2016 https://youtu.be/GXLzqIcMfVQ và đặc biệt bản dựng với phụ đề tiếng Việt tại Royal Opera House (London) năm 2011 https://nhaccodien.vn/vietsub-gounod-faust/

[4] Phần trình diễn của Chigago Symphony Orchestra, Sir Georg Solti chỉ huy (2011) https://youtu.be/3ZUQ7yZTFco

[5] Phần trình diễn của Lucerne Festival Orchestra, Riccardo Chailly chỉ huy (2016) https://youtu.be/qRKPABo9jfc

[6] Nguyên tác tiếng Đức: „Das Ewig-Weibliche – Zieht uns hinan“, lời dịch thơ tiếng Việt của dịch giả Quang Chiến (1941-2021); về công trình dịch “Faust” của Quang Chiến xin xem thêm: https://drtruong.wordpress.com/2021/12/08/und-was-verschwand-wird-mir-zu-wirklichkeiten-dich-gia-quang-chien-doc-tu-ban-dich-vo-bi-kich-faust-cua-j-w-goethe/  

[7] Hợp xướng kết thúc Giao hưởng „Faust“ của Franz Liszt, Boston Symphony Orchestra, Leonard Bernstein chỉ huy https://youtu.be/exuGJ618Ma4

[8] Hợp xướng kết thúc Giao hưởng số 8 của Gustav Mahler, City of Birmingham Symphony Orchestra, Sir Simon Rattle chỉ huy https://youtu.be/9WhNn6zxqVg

[9] Xem https://dasmaedchenkieu.wordpress.com/2020/11/28/kieu-suite-to-khuc-kieu-tac-pham-viet-cho-dan-guitar-co-dien-cua-giao-su-nhac-sy-dang-ngoc-long/  

“Und was verschwand wird mir zu Wirklichkeiten” – Dịch giả Quang Chiến đọc từ bản dịch vở bi kịch “Faust” của J. W. Goethe

“Những gì trước mắt ta, giờ lùi xa, xa mãi,
Những gì ta mất đi, nay sống lại trong lòng.”

Trích buổi đọc tác phẩm và giao lưu với dịch giả và nhà thơ Quang Chiến (1941-2021) tại trụ sở Tạp chí văn hoá – xã hội Đức-Việt “Đối Thoại”, Berlin ngày 19.08.1992

Phần II: Giới thiệu về dự án dịch vở bi kịch “Faust” của J. W. Goethe ra tiếng Việt và trích đọc từ bản thảo

[01:00] Giới thiệu dự án
[04:44] Đọc phần “Đề tặng”
[08:20] Đọc trích đoạn “Thật sung sướng thay cho ai đó còn hy vọng”
[10:30] Đọc trích đoạn “Băng giá đã tan rồi nơi con suối, dòng sông”
[12:35] Đọc trích đoạn “Gã chăn cừu sắm sanh đi nhảy múa”
[15:11] Chia sẻ về phương pháp dịch tác phẩm văn học
[17:45] Đọc trích đoạn “Lạy ông nhân đức, lạy bà hào hoa”
[18:33] Chia sẻ về các đồng nghiệp dịch giả văn học (đặc biệt về hai dịch giả Phạm Mạnh Hùng và Nguyễn Thụy Ứng)

Phần âm nhạc mở đầu và kết thúc: Trích đoạn từ Chương 1 “Faust” và Chương 2 “Gretchen” từ bản Faust-Sonata của nhạc sĩ Đặng Ngọc Long (do chính tác giả biểu diễn)

Ảnh chân dung dịch giả Quang Chiến của dịch giả Đoàn Tử Huyến (1952-2020)

SỐNG CHUNG VỚI CORONA – PODCAST VIỆT-ĐỨC TỪ BERLIN
KỲ 27, THỨ TƯ 08.12.2021
WWW.DRTRUONG.DE

🇩🇪 “Was ich besitze seh’ ich wie im weiten,
Und was verschwand wird mir zu Wirklichkeiten”

Aus der Lesung und Diskussion mit dem Literaturübersetzer und Dichter Quang Chiến (1941-2021) in der Redaktion der deutsch-vietnamesischen Kulturzeitschrift “Đối Thoại”, Berlin den 19.08.1992

Teil II: Vorstellung des Projektes zur vietnamesischen Nachdichtung der Tragödie “Faust” von J. W. Goethe und Lesung einiger Auszüge aus dem Manuskript

[01:00] Vorstellung des Projektes
[04:44] Lesung “Zueignung”
[08:20] Lesung “O glücklich, wer noch hoffen kann”
[10:30] Lesung “Vom Eise befreit sind Strom und Bächer”
[12:35] Lesung “Der Schäfer putzte sich zum Tanz”
[15:11] Über die Literaturübersetzung
[17:45] Lesung “Ihr guten Herren, ihr schönen Frauen”
[18:33] Über die Literaturübersetzer in Vietnam (insbesondere über Phạm Mạnh Hùng und Nguyễn Thụy Ứng)

Musikalischer Einstieg und Ausklang: Aus dem 1. Satz “Faust” und dem 2. Satz “Gretchen” der Faust-Sonata für die klassische Gitarre des Komponisten Đặng Ngọc Long (vom Komponisten sebst gespielt)

Porträtfoto von Quang Chiến: Đoàn Tử Huyến (1952-2020)

LEBEN MIT CORONA – DEUTSCH-VIETNAMESISCHER PODCAST AUS BERLIN
FOLGE 27, MITTWOCH 08.12.2021
WWW.DRTRUONG.DE

“Doch jene Wolke blühte nur Minuten…” – Tưởng niệm dịch giả – nhà thơ Quang Chiến (Ngô Quang Phục) 1941-2021

“Nhưng áng mây trắng trôi
Chỉ bồng bềnh giây lát…”

Tưởng niệm dịch giả – nhà thơ Quang Chiến (Ngô Quang Phục) 1941-2021

Trích buổi đọc tác phẩm và giao lưu với dịch giả và nhà thơ Quang Chiến tại trụ sở Tạp chí văn hoá – xã hội Đức-Việt “Đối Thoại”, Berlin ngày 19.08.1992

Phần I với các tác phẩm dịch thơ của Johannes R. Becher („Gần nhau”) – từ phút 02:00 -, Bertolt Brecht (“Hồi tưởng Marie A.”) – từ phút 03:35 -, Heinrich Heine (“Một cô ả”, “Chính bởi yêu em”, „Anh đã giấu người đời”, „Năm tháng sẽ qua đi”) – từ phút 25:00 – và hai trích đoạn từ tiểu thuyết “Nỗi đau của chàng Werther” – từ phút 11:10 -, của Johann Wolfgang Goethe

SỐNG CHUNG VỚI CORONA – PODCAST VIỆT-ĐỨC TỪ BERLIN
KỲ 26, THỨ SÁU 03.12.2021

“Doch jene Wolke blühte nur Minuten…”

🇩🇪 Aus der Lesung und Diskussion mit Quang Chiến in der Redaktion der deutsch-vietnamesischen Kulturzeitschrift “Đối Thoại”, Berlin den 19.08.1992

Teil I mit der Lesung der Nachdichtungen der Gedichte von Johannes R. Becher („In tiefster Nähe”), Bertolt Brecht (“Erinnerung an die Marie A.”), Heinrich Heine (“Ein Weib”, “Weil ich dich liebe”, “Wie schändlich du gehandelt“, “Die Jahre kommen und gehen”) und der zwei Auszüge aus dem Roman “Die Leiden des jungen Werther” von Johann Wolfgang Goethe

LEBEN MIT CORONA – DEUTSCH-VIETNAMESISCHER PODCAST AUS BERLIN
FOLGE 26, FREITAG 03.12.2021

Isabelle Müller, To love mankind as it is

Gedanken zum Gespräch „To love the world as it is (II)“ mit dem deutsch-vietnamesischen Unternehmer Vu Minh Anh, Gründer und Geschäftsführer der Reisefirma „Terraverde Travel“, aus der Podcast-Reihe „Leben mit Corona – deutsch-vietnamesischer Podcast aus Berlin“, Folge 24, Sonntag 18.07.1959 

Die Autorin Isabelle Müller und der Gastgeber des Podcast bei der gemeinsamen
zweisprachigen Lesung aus dem Buch „Loan“ in Berlin am 28. Juli 2019
(Screenshot aus dem Video von Truong Tran Phuc)

Vorbemerkung: 

Isabelle Müller ist die Tochter einer vietnamesischen Mutter und eines französischen Vaters, der Soldat der französischen Kolonialarmee in Indochina war. Sie wurde 1964 in Tours (Frankreich) als Isabelle Gaucher geboren und wuchs dort in ärmlichen Verhältnissen auf. Seit 1985 arbeitete sie in Deutschland als Dolmetscherin und Übersetzerin für Deutsch-Französisch, Deutsch-Russisch und Deutsch-Englisch. In 2009 erschien ihre Biographie „Phönixtochter – Die Hoffnung war mein Weg“beim Verlag Krüger (S. Fischer). Mit ihrem nächstem Buch, der mütterlichen Biographie „Loan – Aus dem Leben eines Phönix“ nahm Isabelle Müller im Juli 2015 am von Amazon ausgerichteten Kindlestoryteller 2015 Wettbewerb teil und erreichte das Finale (5 Finalisten). Im März 2018 erschien die vietnamesische Fassung des Buchs „Loan – Aus dem Leben eines Phönix“ in Vietnam beim Verlag TRẺ Publishing House (3. Auflage 2019). Im Mai 2016 gründete die Autorin die LOAN Stiftung, die Bildungsprojekte zugunsten Kinder ethnischer Minderheiten in den ärmlichsten Bergregionen im Norden Vietnams realisiert. 

Die folgenden Gedanken teilte Isabelle Müller als Facebook-Kommentare zu der Podcast-Folge „To love the world as it is (II)“, die hier mit dem Einverständnis der Autorin als ein zusammenhängender Text veröffentlicht werden. Wir danken Frau Müller von ganzem Herzen für ihre engagierten und ausführlichen Stellungsnahmen und hoffen, diese sind auch für die Zuhörer:innen des Gespräches und Leser:innen dieses Textes genauso inspirierend, wie für die Macher des Podcast „Leben mit Corona – deutsch-vietnamesischer Podcast aus Berlin“ selbst.        

I.

Lieber Trương Hồng Quang,

nun melde ich mich wieder, wie versprochen, mit meinem ausführlicheren Kommentar (in 8 Teilen gepostet wegen der Länge) zu dieser Podcast Episode. Zuerst meinen tiefen Dank an Dich und Herrn Vu Minh Anh für den interessanten Austausch, der nicht nur wichtige gesellschaftliche und ethische Fragen aufwirft, sondern auch richtig zur Selbstreflexion anregt. An der Länge meines Beitrages werdet ihr merken, dass es viel zu sagen gibt. Daher auch meinen Dank für deine Einladung, meine Meinung als Eurasierin dazu zu äußern. Ich werde nicht auf alle Themen eingehen können, aufgrund ihrer großen Anzahl. Gerne bei einer anderen Gelegenheit.

Die geschickte Einführung der maßgeschneiderten Reisemöglichkeiten des Reiseunternehmens von Herrn Vu Minh Anh bringt uns erst sanft zu den Themen Kultur, Geschichte, Pandemie über Trauma Bewältigung bis hin zur Identitätssuche. Ein gut gewählter Gast, meine ich, um einen Einblick in die Gefühlswelt eines jungen, erfolgreichen „Viet-Deutschen“ (noch mit Bindestrich geschrieben) in Vietnam zu bekommen.

Der kontroverse Blick über die erwähnten Themen kam hauptsächlich hervor, weil ihr beide verschiedenen Generationen angehört. Als in Deutschland lebende Eurasierin französisch-vietnamesischer Herkunft, fand ich mich dennoch in euch beiden wieder. Einmal durch mein Alter (57 Jahre), so auch durch mein Dasein als Mensch vietnamesischer Abstammung im Ausland, bzw. in einer neuen Heimat. Eure Fragen habe ich mir im Laufe meines Lebens bestimmt mindestens schon einmal gestellt – bis auf die Pandemie bezogenen Fragen. Einige davon habe ich dennoch anders beantwortet, als ihr. Doch eins nach dem anderen.

Es sind wichtige Begriffe in die Diskussion gefallen: Polarisieren, Politik, Gesellschaft, solidarische Grundhaltung, Vertrauen, alte Tugenden, Konsens, verstörende Bilder, spontane Hilfsaktionen, Nord-Süd-Konflikt, mentale Trennung, Kommunikation, Diaspora, Widerspruch, Grenzgänger, Krieg, etc… Wahnsinn, finde ich, was u. a. eine Pandemie an Emotionen hervorrufen kann. Es bestätigt klar: Eine Krise offenbart oft das wahre Gesicht eines Menschen, bzw. einer Gesellschaft.

Auf die Frage, ob man die Erfolgsstory aus den Medien („Asien, bzw. Vietnam hat die Corona Lage besser im Griff“) revidieren sollte, da inzwischen Existenzen in Vietnam durch Lockdowns möglicherweise bedroht werden, wird so schnell keine Antwort zu finden sein. Es wird am Ende nicht nur Ansichtssache sein (da jeder auch frei ist, sich seine eigene Meinung zu bilden). Es wird von der jeweiligen Situation und dem jeweiligen Erfahrungsbericht jedes Einzelnen abhängen. Zudem verändert sich noch die Lage fast täglich. 

Eins steht fest: Gleich nach dem Ausbruch der Pandemie hat Vietnam große Disziplin und Stärke bewiesen (wie Herr Vu Minh Anh sagte, „weil asiatische Länder bereits Erfahrung mit Pandemien besitzen“). Es ist aber zu früh feststellen zu wollen, welche Strategie und Politik welche Früchte getragen hat oder nicht. Das wird sich erst später zeigen. Daher stimmt die Aussage von Herrn Vu Minh Anh insofern, dass sich Entscheidungen mit neuen Parametern verändern können, wozu ich ergänze: „und daraufhin vielleicht auch die Meinungen.“

In der Feststellung von Herrn Vu Minh Anh, dass das vietnamesische Volk resilient, zäh und gelassen sei – zu diesen Eigenschaften kommen meinerseits die Adjektive fleißig und kreativ – findet sich doch deutlich ein Stück vietnamesische Identität wieder, die für ihn im späteren Verlauf des Interviews anscheinend – ich zitiere – „keine Rolle mehr spielt“. Entweder ist diese Identität bei ihm ganz tief vergraben und kommt absichtlich nicht zum Vorschein oder er schafft es tatsächlich, sich derart abzunabeln, dass er meint, keine Identität zu haben.

II.

Im weiteren Verlauf des Interviews nimmt Herr Vu Minh Anh – offenbar so bewusst, wie er kann – sowohl die positiven, Mut machenden Erfolgsgeschichten als auch die schlechten Nachrichten (Zwangsprostitution, etc…) über Viet-Deutsche nicht persönlich. Prinzipiell denke ich, ist es grundsätzlich eine gesunde Einstellung, um seine eigene positive, geistige, gesunde Balance zu erhalten. Allerdings kann an dieser Stelle Entfremdung entstehen. Fühlt man sich von einem Thema nicht angesprochen, kann das hinzuführen, dass man wegschaut und wichtige, gesellschaftliche Themen ignoriert. Und gerade hier geht womöglich die Möglichkeit, einen Bezug zur Identität zu finden, verloren.

Wir Menschen entwickeln uns anhand der Informationen, die wir bekommen. Sie helfen uns, das Bild unserer vermeintlichen Realität zu verfeinern. Dann entscheiden wir, ob wir uns mit diesem Bild identifizieren oder nicht. Identitätssuche ist für mich wichtig. Sie bedeutet Zugehörigkeitssuche und ist ein Ruf nach Liebe. Der Mensch durstet danach. An diesem Punkt möchte ich betonen, dass ich überzeugt bin, dass jeder Mensch und jedes Wesen eine Identität besitzen – ob sie es wollen oder nicht -, um sich erst an anderen zu messen (ohne anmaßend zu sein) und um schließlich die eigene Existenz besser wahrzunehmen. Diese philosophische Ebene müsste hier etwas vertieft werden, indem man „Identität“ klarer definiert. Und selbst die Definition von Identität wird sich kontinuierlich entwickeln, da unsere Welt stets in Bewegung ist.

Die Erwähnung von „verstörenden Bildern“ während der Pandemie (Hamsterkäufe, Flucht vor Behörden, etc…) bestätigt meine o.g. Aussage, dass eine Krise (hier wird z.B. COVID mit einem Kriegszustand verglichen) das wahre Gesicht eines Menschen, bzw. einer Gesellschaft offenbart. Weiterhin rutscht man in dem Interview unwillkürlich in das Thema „alte Wunden“ – damit ist der vietnamesische Nord-Süd Konflikt gemeint. Die große Rolle und Wichtigkeit der Kommunikation zwischen den Generationen wird im Interview unterstrichen, was auch absolut richtig ist. Auf eine konstruktive, sachliche und vor allem ehrliche Kommunikation sollte der Mensch stets achten. Richtige Kommunikation sollte alle vorhandenen Ansichtspunkte der jeweiligen Menschen auch wahrnehmen, zulassen, und nicht nur einseitig sein. Der Wille zur Kommunikation sollte auch bewusst geweckt und gepflegt werden, und dies, auf einer ehrlichen Ebene, wenn möglich ohne persönliche Interessen, zum Wohle der Gesellschaft. Denn nur glückliche Einzelpersonen können auch eine glückliche Gesellschaft bilden. Theoretisch. Hier fallen mir Worte wie „verstehen“, „lernen“ oder „verzeihen“: Jeder Mensch weiß besser als jeder andere, was gut für einen ist. Egal, wie und wofür man sich entscheidet, das zu tun, setzt der Wille voraus und bedeutet Arbeit. Ziel wären u. a., dass die Geschichte sich nicht wiederholt, indem man aus der Geschichte erfährt, aus der Vergangenheit lernt und Fehler zu vermeiden.

Zudem wäre es wichtig zu lernen, die Aussagen eines Einzelnen zu hinterfragen und richtig zu interpretieren, um das vielleicht Unbewusste, Unterschwellige an die Oberfläche zu tragen. Auch das ist Arbeit. Das Reiseunternehmen von Herrn Vu Minh Anh bietet sicherlich gute Möglichkeiten an, sich mit tiefgründigen, geschichtlichen, kulturellen, gesellschaftlichen und schließlich menschlichen Themen auseinanderzusetzen.

Alte Wunden (z.B. Nord-Süd-Konflikt) können nur heilen, wenn man die Bereitschaft, den Willen dazu hat. Fakte sprechen für sich und werden es immer tun. Der Mensch ist jedoch lernfähig, trotz seiner Emotionalität. Wir sind äußerlich und innerlich nicht alle gleich (Narr ist, wer das behauptet). Nur Grundeigenschaften ähneln sich und jeder Mensch ist ein Unikat. Wir reagieren und denken anders. Doch sollten wir stets den gesamten Kontext eines Faktes erfragen, um unseren Blickwinkel dadurch zu erweitern und um besser zu verstehen. Sich ein eigenes Bild von etwas machen zu dürfen, ist eine große Freiheit und das sollte uns allen bewusst sein. Reisen durch Vietnam bieten genau das an, da sie eine bereits vorhandene Affinität zu diesem Land sicher verfeinern.

III.

Herr Vu Minh Anh wurde angesprochen auf die Hoffnung auf Beendung des Nord-Süd-Konfliktes. “Das Problem löst sich von selbst aufgrund der Demographie. Wir gehören zur Generation, die im Ausland aufwächst, die gleichzeitig eine Bindung zu Vietnam hat. Es ist ein anderes Denken. Für die Jüngeren ist diese Frage über Nord und Süd völlig fremd.“ Die Wahrheit, würde ich sagen, liegt in der Mitte. 

Einerseits stimmt es (dass es ein anderes Denken ist): Nicht jeder Jugendliche vietnamesischer Abstammung möchte sich mit einer teilweise schmerzhaften Vergangenheit beschäftigen. Die Welt um sie ist doch so friedlich und schön, wozu denn? Die Frage, warum es friedlich und schön um sie ist, mag sich mancher leider nicht oft gestellt haben. Die Antwort würde lauten: Weil ihre Eltern und Großeltern sich dafür geopfert haben. 

Andererseits ist diese Frage bei vielen dieser jungen Menschen sehr präsent, Gott sei Dank. Auch wenn sie es nicht offen zum Ausdruck bringen, bedeutet es lange nicht, dass sie das Thema ignorieren. Sie behalten es einfach lieber für sich. Gerade diese junge Generation durstet nach Aufklärung, um die Denk- und Verhaltensweise der Älteren besser zu begreifen. Ich habe das festgestellt, als die Biographie über meine geliebte Mutter „Loan – Aus dem Leben eines Phönix“ in Deutschland und später in Vietnam erschienen ist. Das Buch wurde begeistert empfangen, weil es einige Antworten gab, auch einen anderen Blickwinkel auf bestimmte Dinge. Es schließt sozusagen eine Lücke in der Geschichte Vietnams und bringt mehr Verständnis, mehr Menschlichkeit in den Familien und in der Gesellschaft. Zeitzeugen gibt es wenige und heutzutage besteht die Möglichkeit, z. B. durch Reisen mit ihnen in Berührung zu kommen und sich auszutauschen – sei es persönlich oder über ein Buch. 

Diese Kinder der 2. Generation stellen Fragen und ihre Fragen werden beantwortet, was gut ist. Ihr Interesse an der Landesgeschichte ist also durchaus vorhanden, kann aber nicht bei dem anderen Teil dieser Generation erzwungen werden – höchstens angeregt. 

Und egal ob die jüngere Generation sich für die Geschichte ihres Herkunftslandes interessiert oder nicht: Unvermeidlich wird das Thema irgendwann zur Geschichte gehören. Eine Buchseite wird umgeblättert, um Raum für eine neue Geschichte zu schaffen. Wie die neue Geschichte allerdings aussehen wird, wird stark davon abhängen, wie die Vergangenheit ausgesehen hat. Vergangenheit gehört für mich deshalb absolut zur Kultur, daher bleibt es empfehlenswert, die Kultur und altes Wissen zu pflegen und weiterzugeben an die, die hören wollen und dafür offen sind.

Für mich ist es also wichtig, die Geschichte (m)einer Länder immer besser kennenzulernen, (welch ein Glück ich habe, denn ich habe mehrere Heimatländer!) daraus zu lernen, um die nächste Generation (meine Kinder z. B. oder meine Freunde) auch darüber zu informieren, aber nur wenn sie es wünschen. Erziehung vermittelt Kultur und Werte. So erfährt man auch von Tugenden wie Güte, Anstand und Empathie. Man sollte aber gleichermaßen über Laster sprechen und aufklären, wo diese z. B. im Leben zu finden sind (ohne zu predigen). Als Elternteil sollte man in der Lage sein, über seinen eigenen Schatten zu springen und das Kind selbst entscheiden lassen, in welche Richtung es gehen möchte. Eltern sind mit der Erziehung nur Wegweiser. Die Richtung sollen die Kinder selbst wählen und den Weg selbst gehen.

Ich persönlich habe begriffen, dass Konflikte und Kriege zuerst im Kopf entstanden sind, meistens aus Machtgier. Daher sollte unbedingt Frieden in unseren Köpfen entstehen, damit Frieden auch zur globalen Realität wird. Diese Vision für unsere nachhaltige Zukunft sollten alle Generationen mit vereinten Kräften hervorrufen.

IV.

Die o.g. Punkte (sehr untypisches, vietnamesisches Verhalten in der Krise / Erinnerung an den alten Nord-Süd-Konflikt) zeigen unterschwellig die bestehende Angst vor dem Verlust der alten, vietnamesischen Tugenden. Hier möchte ich kurz einwenden, dass viele der gemeinten Tugenden nicht nur in Vietnam zu finden sind/waren, sondern in allen Ländern dieser Welt. Tugenden dieser Art – die zur Lebenseinstellung oder Lebensphilosophie werden sollten (jeder kann natürlich für sich entscheiden) – finden sich zwar in manchen Ländern mehr als in andere, doch sind sie irdisch und keineswegs landesspezifisch. Insofern ist diese Angst sicherlich nicht nur vietnamesisch, sondern global: Wo gehen unsere edlen Werte hin und sind sie noch zu retten, und wenn ja, wie? 

Die Frage an Herrn Vu Minh Anh „Kann man sich als Rückkehrer noch gut wieder im Ursprungsland integrieren?“ wurde teilweise beantwortet. Ich persönlich finde es möglich, wenn der Wille dazu stark genug ist und wenn man im Ursprungsland mindestens genauso glücklich ist, wie im „Gastland“. Es kommt auf die persönlichen Ziele an: Ist man noch jung genug und meint, man hat genug „anderes Wissen“ bekommen und möchte es im Ursprungsland mit seinen Mitmenschen teilen, damit die Gesellschaft davon profitiert, dürfte es funktionieren. Ist man älter – nachdem man Jahrzehnte im „Gastland“ / ich bezeichne es lieber als „zweite Heimat“ – verbracht hat, sehe ich es als sehr schwierig, sich wieder zu integrieren und sich dabei wohl zu fühlen. Ein Mensch filtriert bewusst oder unbewusst immer „das Beste“ aus dem Leben heraus, um glücklich zu sein (Glück ist schließlich das Ziel jeder Person auf Erden; ich hatte damals als junge Studentin eine Arbeit über „Glück“ verfasst, erinnere ich mich). Wenn Rückkehr im Ursprungsland, dann nur mit einer großen Sammlung an neu erworbenen Eigenschaften aus der 2. Heimat im Gepäck. Am Ende kann diese „Mischkombination aus verschiedenen Kulturen“ gut bestehen.

An dieser Stelle eine quere Frage von mir: Mit welchen Absichten tut man das wirklich (sich wieder im Ursprungsland wieder integrieren)? Aus reinem Pragmatismus oder aus Nächstenliebe? (wohl ein anderes Thema).

Natürlich ist es von Vorteil, neu erworbene Kenntnisse und Verbesserungen (soweit es welche sind) einzuführen, um die Lebensqualität seiner Mitmenschen im Heimatland zu verbessern (Förderung der Wirtschaft, etc…). Ich hätte dabei gerne unterstrichen, wie wichtig Ethik dabei ist, um eine nachhaltige, positive Entwicklung des Heimatlandes zu erzielen – dies, mit immer großem Respekt zur vorhandenen Kultur. Diese sollte stets wie eine kostbare Perle beschützt werden. Denn die Zerstörung einer Kultur involviert einen Untergang. Wesentlich ist nicht der Untergang selbst, sondern die Frage, ob bei diesem Untergang die WERTE, die hoffentlich vermittelt wurden, dabei verschwunden sind oder ob sie weiterhin bestehen. Dass Kulturen Höhepunkte und Niedergänge haben, ist und bleibt ein Fakt. Es wird durch die Geschichte belegt. Früher oder später, sobald ein Land satt und fett wird, kommt der Untergang. Die Frage ist nur, bei sich schnell entwickelnden Ländern, wie schnell sie satt und fett werden und ob gute Werte (alte Tugenden) sie vor diesem Niedergang retten können. Auch ein interessantes Thema.

V.

Die Aussage von Herrn Vu Minh Anh, Vietnam sei ein offenes Land, das Chancen für alle bietet, ist richtig. Hier möchte ich betonen, dass alle möglichen Aspekte einer Entwicklung beleuchtet werden sollten, bevor man ein Land gänzlich öffnet. Kreativität ist wunderbar (das zeigen die Vietnamesen zum Beispiel mit der großen Anzahl ihrer Startups im Land), aber die “Maschinerie” in Gang zu halten, könnte unwillkürlich weitere Probleme bringen, denen die junge Generation vor Ort nicht unbedingt gewachsen ist. Die jetzige, „wissenshungrige“, vietnamesische Generation hat ein Großteil von Entwicklungen nicht selbst erlebt und steht nur vor den Ergebnissen dieser Entwicklungen. Ein Beispiel: Ein Kind aus dem abgelegenen, hohen Norden Vietnams hat ein Handy, ist vernetzt und sieht Inhalte “einer anderen Welt”, die ihn „verzaubert“, ihm besser zu sein erscheint, als die seine. Er will dorthin und so sein, wie die Person, die ihm gezeigt wird, und das am besten jetzt. Teilweise auf Kosten der Nachhaltigkeit. Ein gefährliches Vorhaben durch ein verzerrtes Bild der Realität. Diese Kinder sind deshalb schon zum Scheitern verurteilt. Auch ein anderes Thema, das weiter ergründet werden könnte.

All diese o.g. Punkte sind dennoch meines Erachtens nur Randerscheinungen eines viel wichtigeren Themas: BILDUNG, verbunden mit weiteren Themen wie Kommunikation und Aufklärung. Kann die Jugend in der Entwicklungsphase eines Landes mitgenommen werden? Kann die (nicht nur vietnamesische) Jugend mit dem sehr schnellen Fortschritt mithalten? Dreht sich die Welt zu schnell? Entgleist uns die Jugend? Dieser Gedanke impliziert auch die Rolle der Medien und der Information, die selbst auch Desinformation oder Konditionierung sein kann (indem der „Eine Richtung Blick“ gepflegt wird). Selbst Geschichtsbücher, die von Menschen verfasst wurden, können Fehler enthalten, Bilder verzerren und in die Irre führen. Deshalb sollte man möglichst viele Blickwinkel und den Kontext einer Sache betrachten und versuchen, sich ein eigenes Bild zu machen. 

Durch einen wirklich gesunden Menschenverstand, sollte es zudem zu schaffen sein, eine gesunde Welt zu erschaffen. Idealismus von mir? Mag sein.

Ein deutscher Kirchenmann sagte mir einst: „Ich armes Schaf, bräuchte dringend geistige Nahrung“, bloß weil ich ihm meinen Grundsatz im Leben erklärte: Das Gute vom Bösen zu unterscheiden. Bemüht man sich, dies im Leben zu tun, erreicht man (in der Regel) diesen gesunden Menschenverstand. Vertrauen müsste entsprechend vorgelebt und könnte teilweise gewonnen werden, indem man den Geist fördert. Misstrauen ist dabei durchaus legitim (aus den vergangenen Erfahrungen heraus), doch ein Ziel sollte sein, die richtige, gesunde Balance zu finden.

Im Interview hast du, lieber Quang, erwähnt, dass du mit 17 Jahren nach Deutschland gekommen bist und deine Persönlichkeit quasi „fertig entwickelt“ war. Ich meine, dass nur die Basis deiner Persönlichkeit festgelegt war, da sich diese aufgrund der Erfahrungen, des Austauschs, der menschlichen Neugier stetig entwickelt hat (und noch tut). Du siehst es als Problem, dass die 2. Generation sich nicht vietnamesisch fühlt und sich entsprechend verhält (waschechte Vietnamesen sind immer sehr nostalgisch…:)) Herr Vu Minh Anh fügt sogar hinzu, dass diese neue Generation „die neue, deutsche Generation“ sei. 

Ich hätte hier, aufgrund meiner eigenen Herkunft, eine Anregung. Warum sollte man aus diesem Fakt (dass sich die neue Generation nicht vietnamesisch fühlt) ein Problem machen? Dies führt u. a. zur tiefen Zerrissenheit der Generation Nr. 1 und gibt zudem der Generation Nr. 2 ein schlechtes Gewissen und das Gefühl, den Erwartungen nicht gerecht zu werden. Heißt es nicht: „Erwarte nichts, so wirst du nicht enttäuscht“? Man kann nicht erwarten, nachdem man eine Pflanze umgesetzt hat, dass sie genauso wird wie im mütterlichen Boden. Das Klima, die Eigenschaften, das Umfeld beeinflussen die Entwicklung der Pflanze. Der Dünger (die Vermittlung der Werte) wird helfen mögen, doch das Ergebnis wird eigen sein – denn jeder Mensch ist eigen.

VI.

Ich glaube, dass die vorhandene Sorge (dass die 2. Generation sich nicht vietnamesisch fühlt) durchaus berechtigt ist, aber sie sollte nicht speziell auf Vietnam (oder ein anderes Herkunftsland) bezogen sein. Die wahre Sorge sehe ich mehr bei den Eltern: Sie haben Leid erfahren und mussten sich, ob sie es wollten oder nicht, mit der schmerzhaften Geschichte Vietnams auseinandersetzen. Sie wurden mit den Auswirkungen von furchtbaren Kriegen konfrontiert und sehnten sich nach einer besseren Zukunft. Später haben sie Kinder bekommen und versucht, dieser 2. Generation einen Bezug (nicht nur durch die Hautfarbe oder durch ein anderes Aussehen) zu ihren Erfahrungen zu geben. Indem sie das getan haben und immer wieder tun (das Problem ist ja immer noch da), reflektieren/reproduzieren sie ihre Ängste, ihre vergangenen Erfahrungen und ganzen Hoffnungen auf die Kinder. 

Durch Erzählungen über das Herkunftsland kann man einen Bezug zum Herkunftsland zwar schaffen, doch wird es ein anderer sein. Es muss auch ein anderer sein, denn diese Kinder können das Ausmaß der Erfahrungen nicht so wie sie fühlen. Sie können es nur spüren. Und unbewusst möchten sie das Leid ihrer Eltern nicht wiederholen, indem sie dieses im Geist wieder erleben. Die elterlichen Erfahrungen fühlen sich wie eine Last an und – logischerweise – denken sie, auch als Schutzmechanismus: „Warum soll ich mich belasten, wenn es mir hier doch gut geht?“

Haben die Eltern es geschafft, durch ihre Erzählungen die Neugier ihrer Kinder zu wecken, ist es die halbe Miete. Denn nicht jedes Kind wird sich dafür interessieren. Ich z. B. habe vier Geschwister und bin das einzige Kind, das sich wirklich tiefgründig mit dem Thema meiner Herkunft beschäftigt hat. Obwohl die Erziehung und das Umfeld dieselben waren.

Wenn diese 2. Generation sich nicht vietnamesisch fühlt, impliziert es womöglich, dass die Zugehörigkeit, bzw. die oben angesprochene Identität nur ein Gefühl ist. Weiterhin sollte man sich fragen: Definiert sich die Verbundenheit zu einem Land (Heimatliebe) unbedingt durch die Blutlinie? Das glaube ich nicht: Viele „Fremde“ ohne vietnamesische Blutlinie lieben Vietnam aus tiefstem Herzen und betrachten dieses Land sogar als ihre wahre Heimat.

Es ist weiterhin ein gutes Zeichen, dass sich die 2. Generation (im Ausland geborene Vietnamesen oder Menschen vietnamesischer Abstammung) im neuen Heimatland derart gut angepasst und integriert hat. War das innerlich nicht der Traum ihrer Eltern? Eltern wollen in der Regel immer, dass es ihren Kindern besser ergeht als ihnen damals. Aus Liebe möchten sie ihnen den schweren Weg der Entbehrung, das Leid ersparen. Dieser Weg beinhaltet aber leider das Risiko der Entfremdung zu den Wurzeln. Und hier gibt es, meine ich, nur einen Weg: Multikulturelle Bildung und breite Aufklärung im Elternhaus, in der Hoffnung, dass die Liebe der Kinder zur Heimat früh oder später doch erweckt wird – aber nur vorausgesetzt, dass dem Kind genug Freiraum gelassen wird, um den eigenen Menschenverstand zu entwickeln und selbst zu entscheiden, ob es die Heimatliebe entwickeln will oder nicht. 

Liebe kann nicht erzwungen werden, auch nicht Heimatliebe. Am Ende wird sich ein Kind dafür interessieren und das andere nicht.

Die Liebe zu meiner (Teil)Heimat Vietnam ist aufgrund meiner erlebten Gefühle und der dabei entwickelten Empathie gewachsen. Ich durfte immer selbst mein eigenes Bild entwickeln. Vielleicht war das die subtilere Art und Weise meiner vietnamesischen Mutter Loan, mich an diesem Punkt zu bringen. Sie hat mich niemals gezwungen, Vietnam zu lieben. Stattdessen hat sie mir vietnamesische Musik vorgespielt, hat gesungen und mir die Texte übersetzt. Sie hat vietnamesisch gekocht und so einen starken Bezug zu Vietnam geschaffen. Ich habe mich aber selbst dafür interessiert und das ist hier ein wesentlicher, enormer Unterschied.

VII.

Wie du aus ihrer Biographie erfahren hast, bestand schon bei ihr das Problem der Zugehörigkeit: Sie gehörte (angeblich) nicht mehr Vietnam an, weil sie das Land verlassen hatte (den wahren Kontext zu kennen, ist deshalb wichtig). Und sie war in Frankreich nicht willkommen (die Geschichte von u. a. Dien Bien Phu spricht für sich). Sie gehörte also plötzlich keinem Land mehr, war heimatlos (ein schrecklicher Gedanke), obwohl sie ihre Heimat Vietnam immer zutiefst weiterhin liebte und sich parallel dazu in Frankreich integrieren wollte. Im Herzen war der Ruf nach Zugehörigkeit, nach Liebe groß. Bedingt durch das ablehnende Verhalten (nicht Akzeptanz) meines Umfeldes, habe ich schnell als Kind gelernt, mich fremd zu fühlen, trotz meines innerlichen Wunsches, doch zu beiden Ländern gehören zu wollen. Meine Mutter hat damals gute Lösungen zu den Dilemmas gefunden:

1) Bildung war ein Schlüssel, um sich erst Respekt zu verschaffen. Wer respektiert wird, wird auch wahrgenommen und kommt besser durch Widrigkeiten durch. 

2) Genauso wie eine Heimat, sollte man die Erde (als Planet) betrachten. Deshalb sind wir keineswegs heimatlos, weil wir Menschen auf Erden sind. Irgendwie tröstlich. Diese Aussage beantwortet die im Interview aufgekommene Frage der Gleichberechtigung. Die Gleichberechtigung sollte nicht nur für Mensch, sondern für alle Lebewesen sein, aus Respekt für das, was Leben bedeutet.

Weiterhin entwickelt sich Heimatliebe von den im Ausland geborenen Menschen vietnamesischer Herkunft durch die Art, wie sie im angesprochenen Land empfangen und wahrgenommen werden. Noch einmal möchte ich die Wichtigkeit der Entwicklung des gesunden Menschenverstandes unterstreichen.

Hier Beispiele: Frankreich ist das Land, in dem ich geboren wurde und ich aufgewachsen bin. Es ist aufgrund vieler Verhaltensweisen ein nationalistisches Land. Mir wurde damals als Kind eingetrichtert (teilweise von meiner französischen Familie und von einigen Lehrern sogar), wie schlimm der 1. und der 2. Weltkrieg waren (ich widerspreche nicht) und wie fast noch schlimmer es sei, sich mit den furchtbaren Germanen (die Deutschen) vermischen zu wollen = einem Landesverrat gleich. Hätte ich darauf gehört, ohne meinen Verstand einzusetzen und selbst Rückschlüsse zu ziehen, hätte ich niemals die deutsche Sprache gelernt (Sprachen sind übrigens auch sehr wichtig, um sich zu integrieren und die Welt zu verstehen = Thema Kommunikation). Deutschland hat mir schließlich bessere Zukunftschancen gegeben, als in Frankreich. Inzwischen besitze ich auch die deutsche Staatsbürgerschaft. Ich habe einen deutschen Mann, zwei Deutsch-französische Kinder. Deutschland ist also zu meiner zweiten, geliebten Heimat geworden. Und trotzdem liebe ich Frankreich und respektiere es als mein Ursprungsland, das mir auch zu einer gewissen Zeit eine glückliche Zeit beschert und in der Not geholfen hat (ich bekam ein hohes, staatliches Stipendium, um in Frankreich zu studieren).

Zweites Beispiel: Auf der Suche nach meinen vietnamesischen Wurzeln (nach eigenem Bekunden meines Interesses dafür), besuchte ich 1990 das Land meiner Wurzeln – auch mit dem innerlichen Wunsch, dazu zu gehören und angenommen zu werden. Mein Aussehen ist alles andere als Vietnamesisch, doch mein Herz schlägt in mancher Hinsicht vielleicht sogar stärker als manches vietnamesisches Herz. Ich wurde zum größten Teil sehr liebevoll empfangen, als ein Kind zweier Welten, zweier Kulturen. Dieses Gefühl, „zu Hause angekommen zu sein“ war überwältigend und gab mir ein Stück meiner Selbst zurück. So sehr, dass ich Vietnam ebenso als mein weiteres, geliebtes Heimatland betrachte. Herr Vu Minh Anh sagte im Interview auch: “Die Welt ist bunt“. Das stimmt. Man darf mehrere Heimatländer haben. Man liebt sie nur auf unterschiedliche Weise.

Stelle ich mir die Fragen: Bin ich mehr Deutsch als Französin? Bin ich mehr Vietnamesin als alles andere? Sollte ich mir überhaupt diese Fragen stellen, um glücklich zu sein? Nein. Ich habe beschlossen, aus jedem Land, das mir Willkommen heißt, voller Dankbarkeit ein Heimatland zu machen. Ich mache daraus einen Vorteil, anstatt ein Hindernis.

VIII.

In beiden Fällen lasse ich bewusst keinen Raum für Zerrissenheit (begrenztes Denken ruft Zerrissenheit hervor). Beides ist gut und ist multiplizierbar auf allen Ländern dieser Welt. Man sollte Identität deshalb nicht be/einschränken indem man sagt: „Mein Kind sollte sich mehr vietnamesisch fühlen und sich entsprechend verhalten“. Stattdessen sollte man den menschlichen, universellen Aspekt hervorheben und sagen: „Mein Kind ist ein Kind zweier Kulturen. Das ist gut so und eine Bereicherung unserer Gesellschaft. Mein Kind ist am Ende ein Mensch.“ Man kann keine Farben vermischen und erwarten, dass das erzeugte Ergebnis eine einzige Farbe enthält. Man kann keine Pflanze einpflanzen in der Erwartung, dass sie nur eine Art Wasser trinkt und bestimmte Sonnenstrahlen annimmt, denn sie wird sich sowieso das nehmen was sie braucht, um zu überleben und sich zu entfalten – aufgrund des Bodens und der Nahrung, die sie bekommt und annimmt oder nicht.

Identität, Zugehörigkeit und Heimatliebe kommen durch natürliche Veranlagung, Wissen und Kultur. Kultur kommt durch Bildung. Sie bilden einen Kreis und der Mensch entscheidet, ob es ein Engelskreis oder ein Teufelskreis wird. Ein Garten bleibt brach oder wird kultiviert. Das liegt an jedem Einzelnen und der Prozess beginnt im Elternhaus. Der Wille und das zu entwickelnde Potential der einzelnen Person, sowie die wirtschaftlichen, gesellschaftlichen, geographischen und politischen Faktoren werden die Richtung beeinflussen – doch das ist wohl ein anderes Thema.

Wir sind äußerlich und innerlich nicht alle gleich. Wir sind einzelne Wesen in ihrer unendlichen, bereichernden Vielseitigkeit. Zu dieser Episode hätte der Titel “To love mankind as it is” gut gepasst. Nicht nur die Welt, sondern den Menschen zu lieben, wie er ist, ist meines Erachtens der Schlüssel zur Gelassenheit.

Wie du siehst, lieber Quang, sind dein Podcast und Eure beiden Meinungen sehr inspirierend. Das sind die zusammengefassten, spontanen Gedanken meiner kleinen Person beim Zuhören. Gewiss sind sie nicht völlig ausgereift und bedürfen an mancher Stelle Verbesserungen. Doch sie unterstreichen, hoffe ich, die Wichtigkeit von Dialog und Wertevermittlung, um einen nachhaltigen Weg in Richtung positiver Zukunft gemeinsam zu bauen. 

Hier noch einmal das Zitat meiner geliebten Mutter Loan:

„Was hat mich getrieben? Hoffnung! Hoffnung für die Vertriebenen, für die Verlassenen, für die Einsamen und für die, die an den Himmel glauben. Hoffnung, meinen Kindern etwas auf den Weg mitgegeben zu haben; das zu erreichen, was ich nicht geschafft habe! Wenn meine Kinder es nicht schaffen, wer dann?“

Wir „eingedeutschte Menschen“ sollten deshalb den wichtigen, wertvollen Samen der alten, guten Tugenden weiterhin sähen, in der Hoffnung, sie fallen auf fruchtbarem Boden.

Quelle: Facebook, 30.07.2021